Summary: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO VÀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ TRONG CÁC CƠ SỞ CÓ ĐÀO TẠO NGHỀ Phần 1: MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, sự nghiệp dạy nghề đã được phục hồi, ổn định và có bước phát triển, đáp ứng tốt hơn nhu cầu nhân lực kỹ thuật của thị trường lao động. Tuy nhiên, dạy nghề vẫn còn nhiều khó khăn, tồn tại, bức xúc và là mối quan tâm của toàn xã hội. Do thiếu quy hoạch hệ thống đào tạo nghề, cho nên đào tạo nghề hiện nay hầu như là tự phát, cơ cấu ngành nghề và dạy nghề mất cân đối, phân tán,chưa gắn kết với nhu cầu thực tế, không đáp ứng nhu cầu chuyển dịch kinh tế. Số trường dạy nghề có nhiều nhưng nhìn chung quy mô nhỏ. Ở nước ta hiện nay đang tồn tại mất cân đối giữa đào tạo công nhân với đào tạo cán bộ trung cấp và đại học, ở các nước tỷ lệ lao động phổ thông chỉ chiếm 35% thì ở Việt Nam là 88%. Tỷ lệ công nhân lành nghề ở các nước là 35% thì ở Việt nam là 5,5%. Lao động kỹ thuật trung cấp cũng vậy: 24,5% ở các nước công nghiệp và 3,5% ở Việt nam. Nếu các nước công nghiệp có cơ cấu nhân lực là 1 kỹ sư - 4,9 kỹ thuật viên - 7 công nhân lành nghề và bán lành nghề, còn ở Việt nam tỷ lệ 1 kỹ sư - 1,29 kỹ thuật viên - 2,43 công nhân lành nghề và bán lành nghề, cho thấy tình trạng thừa thầy thiếu thợ khá phổ biến. Hơn nưa đào tạo nghề chưa thích ứng với thị trường lao động, nguồn nhân lực chưa đáp ứng nhu cầu phát triển của các khu công nghiệp - khu chế xuất cả về số lượng và chất lượng, lạc hậu so với các nước trong khu vực, chưa có chính sách thu hút trọng dụng người tài, tạo môi trường cạnh tranh, công bằng lành mạnh Hiện nay sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đang đòi hỏi bức xúc nhu cầu về nguồn nhân lực – một lực lượng đông đảo có đủ kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, có phẩm chất đạo đức, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nền kinh tế trong xu thế cạnh tranh và hội nhập, nhất là trong giai đoạn nước ta vừa mới gia nhập tổ chức thương mại Thế giới ( WTO). Đảng và Nhà nước ta đã có những chiến lược, chính sách ưu tiên để đầu tư phát triển lĩnh vực này. Nghị quyết của đại hội IX của Đảng đã nêu rõ: " Tiếp tục đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp giảng dạy và phương thức đào tạo đội ngũ lao động có chất lượng cao, đặc biệt là trong các ngành kinh tế mũi nhọn, công nghệ cao. Gắn với việc hình thành các khu công nghiệp, khu công nghệ cao với hệ thống các trường đào tạo nghề. Phát triển nhanh và phân bố hợp lý hệ thống trường dạy nghề trên địa bàn cả nước, mở rộng các hình thức đào tạo nghề đa dạng, linh hoạt, năng động " Nguồn nhân lực Việt nam nói chung và của miền trung nói riêng đang có nhiều điều bất cập. Bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nguồn nhân lực của miền Trung đang ở trong tình trạng thừa lao động phổ thông, lao động không có chuyên môn kỹ thuật, nhưng lại thiếu lao động có trình độ tổ chức sản xuất kinh doanh, thiếu thợ kỹ thuật trong các ngành, nghề và trong các khu vực kinh tế. tình trạng thất nghiệp vẫn đang được báo động. Một trong những nguyên nhân chính là do chất lượng đào tạo không đáp ứng được đòi hỏi mà những diễn biến nhanh chóng của nền kinh tế và quá trình phát triển công nghệ đặt ra Thực tế đặt ra cho công tác dạy nghề ở miền Trung nói chung và ở trường CĐCN-ĐHĐN nói riêng phải không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo. Nâng cao chất lượng đào tạo nghề như là một tất yếu khách quan, một yêu cầu hết sức cấp thiết. Nó không những ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nguồn nhân lực mà còn ảnh hưởng đến việc thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nâng cao chất lượng đào tạo nghề tức là phải nâng cao chất lượng các yếu tố đảm bảo chất lượng đào tạo, trong đó có yếu tố tổ chức quản lý. Trong giai đoạn từ nay đến năm 2010, sự nghiệp dạy nghề đang đứng trước những cơ hội và thách thức lớn. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường lao động trong nước và quốc tế, dạy nghề cần được phát triển trên cơ sở đổi mới căn bản, toàn diện theo hướng tiếp cận với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, sự thay đổi nhanh chóng của kỹ thuật, công nghệ và hội nhập. Toàn ngành dạy nghề cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ chủ yếu sau: Phát triển mạng lưới dạy nghề, mở rộng quy mô dào tạo, tiếp tục đổi mới nội dung chương trình dạy nghề, tập trung nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề, tăng cường quản lý chất lượng, xây dựng và ban hành các quy chế chính sách cụ thể và đẩy mạnh phong trào thi đua dạy tốt học tốt... Nhận thức được vai trò to lớn của việc nâng cao chất lượng đào tạo nói chung và đào tạo nghề nói riêng, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài " Các biện pháp quản lý nâng cao chất lượng đào tạo trung cấp nghề (Đào tạo nghề) của trường Cao đẳng công nghệ - ĐHĐN trong giai đoạn hiện nay" 2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thông qua việc khảo sát, phân tích đánh giá thực trạng công tác quản lý đào tạo nghề của trường CĐCN-ĐHĐN, chúng tôi đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề của trường trong giai đoạn hiện nay. 3. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 3.1 Khách thể nghiên cứu Công tác quản lý trường học nói chung và hoạt động đào tạo nghề nói riêng của trường CĐCN-ĐHĐN 3.2 Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp quản lý nâng cao chất lượng đào tạo nghề của trường Cao đẳng công nghệ. 4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC Công tác đào tạo nghề ở trường CĐCN-ĐHĐN còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển nguồn nhân lực trong giai đoạn hiện nay. Nếu xác lập được các biện pháp quản lý tác động đồng bộ đến các thành tố của quá trình đào tạo nghề, thì sẽ nâng cao được chất lượng đào tạo nghề. 5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU - Xác định cơ sở lý luận của công tác quản lý chất lượng đào tạo nghề của trường CĐCN-ĐHĐN. - Khảo sát phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý đào tạo nghề của trường CĐCN-ĐHĐN - Đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề của trường CĐCN- ĐHĐN 6. GIỚI HẠN VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU Do hạn chế về kiến thức chuyên môn và thời gian có hạn nên trong luận văn này chỉ được phép tập trung vào lĩnh vực sau đây: Nghiên cứu các mô hình đào tạo nghề của trường CĐCN thuộc ĐHĐN. 7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận: Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại tài liệu nhằm xây dựng cơ sở lý luận đề tài nghiên cứu. 7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Các phương pháp: Điều tra, phỏng vấn, quan sát, chuyên gia nhằm khảo sát, đánh giá thực trạng công tác quản lý đào tạo nghề tại trường CĐCN-ĐHĐN và thu thập thêm các thông tin có liên quan đến vấn đề nghiên cứu 7.3. Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng công cụ vi tính với các phần mềm nhằm xử lý kết quả nghiên cứu Phần 2: NỘI DUNG Chương I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO VÀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ TRONG CÁC CƠ SỞ CÓ ĐÀO TẠO NGHỀ 1.1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ Vấn đề chất lượng đào tạo nghề từ trước đến nay, là một đề tài có tính thời sự, luôn thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu. Tuy nhiên đây là vấn đề khó, phức tạp phạm vi rộng và phong phú, do vậy các đề tài đi sâu nghiên cứu lính vực này còn ít với nội dung nghiên cứu khá rộng.Nhiều tài liệu giáo trình về quản lý đào tạo nghề đã được biên soạn và phát hành như: Năm 1999, trường Đào tạo cán bộ công đoàn Hà Nội với đề tài: “ Đánh giá thực trạng tay nghề của công nhân Hà Nội”, đề xuất các giải pháp nâng cao tay nghề cho công nhân trong các ngành trọng điểm của Hà Nội. Năm 2002 với bài viết “ Đánh giá một cách khách quan nhất công tác đào tạo nghề đã đạt được những thành công nhất định “ Lao động& Xã hội (192) của bộ trưởng Bộ LĐTB&XH. Với thông tin thị trường lao động, (2) trang 1-2 của tác giả Đỗ Trọng Hùng ( 2002) “ Thực hiện tốt chiến lược đào tạo nghề góp phần phát triển thị trường lao đông” Tác giả Nguyễn Minh Đường, với “ Tổ chức và quản lý quá trình đào tạo “ (năm 1996) và nhiều tài liệu khác. Với việc “ Cải tiến mục tiêu và nội dung đào tạo nghề” (1990); “ Phát triển giáo dục nghề nghiệp đáp ứng quá trình đào tạo nguồn nhân lực “(2001), “ Đổi mới công tác quản lý trong các trường đào tạo nghề đáp ứng sự nghiệp công ngiệp hóa , hiện đại hóa “ ( Kỷ yếu hội thảo của sở Lao đông- TBXH Hà Nội và “ Giáo dục nghề nghiệp- những vấn đề và giải pháp” (2005) của PGS.TS Nguyễn Viết Sự. “Định hướng nghề nghiệp và việc làm “ (2004) của Tổng cục Dạy nghề. Với việc “ Đào tạo nguồn nhân lực ở Thành phố Hồ Chí Minh” Những bất cập trong lĩnh vực này và giải pháp.v.v. Tất cả cho chúng ta thấy các đề tài đã đề cập đến chất lượng tay nghề, chất lượng công tác đào tạo nghề trong những năm qua và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề trong thời gian tới nhằm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Các công trình nghiên cứu khoa học, từ trên những hướng tiếp cận khác nhau, đã cũng đề cập đến những khó khăn, thuận lợi, những nỗ lực và sự chuyển biến tích cực của công tác đào tạo nghề trong những năm qua. Nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và Chính phủ, sự nỗ lực của toàn ngành dạy nghề, sự nghiệp dạy nghề đã được phục hồi và đang tiếp tục phát triển mạnh, đạt được một số thành tựu đáng khích lệ: Mạng lưới cơ sở dạy nghề từng bước được phát triển theo quy hoạch. doanh. Các điều kiện bảo đảm chất lượng đào tạo nghề được cải thiện một bước như nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên; đổi mới nội dung, chương trình đào tạo, cơ sở vật chất, trang thiết bị cho dạy và học nghề đã được đầu tư, nâng cấp. Phong trào thi đua dạy tốt học tốt trong toàn ngành đã được đẩy mạnh. Các hoạt động như hội thi học sinh giỏi nghề, hội giảng giáo viên dạy nghề, hội thi thiết bị dạy nghề tự làm … đã trở thành hoạt động thường xuyên từ cơ sở dạy nghề đến toàn quốc mang lại hiệu quả thiết thực. Chất lượng và hiệu quả dạy nghề đã có nhiều chuyển biến tích cực tỷ lệ học sinh tốt nghiệp luôn đạt 96%, khoảng 70% học sinh ra trường tìm được việc làm. Học sinh ra trường đáp ứng được nhu cầu của thị truờng lao động. Tuy nhiên vấn đề quản lý đào tạo nghề tại truờng CĐCN cũng đã đạt được một số thành tích đáng kể. Song trong nhiều năm qua chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống. Chính vì vậy công tác quản lý chất lượng đào tạo nghề tại trường CĐCN là vấn đề cần được nghiên cứu kỹ. Nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực góp phần thực hiện thành công các mục tiêu phát triển kinh tế trong khu vực. 1.2. NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ LÝ LUẬN 1.2.1. Khái niệm về quản lý 1.2.1.1. Khái niệm Quản lý là sự công tác liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế… bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng. Đối tượng quản lý có thể trên qui mô toàn cầu, khu vực, quốc gia, ngành, đơn vị, có thể là một con người, sự vật cụ thể. Quản lý thể hiện việc tổ chức, điều hành tập hợp người, công cụ, phương tiện tài chính,… để kết hợp các yếu tố đó với nhau nhằm đạt mục tiêu định trước. Chủ thể muốn kết hợp được các hoạt động của đối tượng theo một định hướng quản lý đặt ra phải tạo ra được “quyền uy” buộc đối tượng phải tuân thủ. Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích đã đề ra. Sự tác động của quản lý, phải bằng cách nào đó để người chịu quản lý luôn luôn hồ hởi, phấn khởi đem hết năng lực và trí tuệ để sáng tạo ra lợi ích cho bản thân, cho tổ chức và cho cả xã hội. Quản lý là một môn khoa học sử dụng trí thức của nhiều môn khoa học tự nhiên và xã hội nhân văn khác như: toán học, thống kê, kinh tế, tâm lí và xã hội học… Nó còn là một “nghệ thuật” đòi hỏi sự khôn khéo và tinh tế để đạt tới mục đích. 1.2.1.2. Các chức năng quản lý a. Lập kế hoạch: Là chức năng cơ bản nhất trong các chức năng quản lý, là cái khởi điểm của một chu trình quản lý. Lập kế hoạch là quá trình xác lập mục tiêu, thời gian, biện pháp, dự báo trước kế hoạch và quyết định phương thức để thực hiện mục tiêu đó. Nói cách khác lập kế hoạch là xác định trước xem phải làm gì, làm như thế nào, khi nào làm và ai làm. Căn cứ thực trạng ban đầu của tổ chức và căn cứ vào mục tiêu cần phải hướng tới để cụ thể hoá bằng những nhiệm vụ cử tổ chức trong từng thời kỳ, từng giai đoạn. Từ đó tìm ra con đường, biện pháp đưa đơn vị đạt được mục tiêu. b. Tổ chức: Là quá trình thiết lập cấu trúc quan hệ giữa các thành viên, các bộ phận. Từ đó, chủ thể quản lý tác động đến đốí tượng quản lý một cách có hiệu quả bằng cách điều phối các nguồn lực của tổ chức như nhân lực, vật lực và tài lực. Quá trình xây dựng và hoàn thiện cơ cấu tổ chức phải đảm bảo các yêu cầu: Tính tối ưu, tính linh hoạt, độ tin cậy và tính kinh tế. Trong quá trình xây dựng cơ cấu tổ chức quản lý cần tính đến các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đó là những điều kiện, hoàn cảnh, tình huống cụ thể có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tổ chức thực hiện. c. Chỉ đạo: Là phương thức tác động của chủ thể quản lý nhằm điều hành tổ chức- nhân lực đã có của đơn vị vận hành theo đúng kế hoạch đã vạch ra. Lãnh đạo bao hàm cả liên kết, liên hệ, uốn nắn hoạt động của người, động viên, khuyến khích họ hoàn thành nhiệm vụ. Trong chức năng chỉ đạo, chủ thể quản lý phải trực tiếp ra quyết định ( mệnh lệnh) cho nhân viên dưới quyền và hướng dẫn, quan sát, phối hợp, động viên ... để thuyết phục, thúc đẩy họ hoạt động đạt được các mục tiêu đó bằng nhiều biện pháp khác nhau. d. Kiểm tra: Là hoạt động của chủ thể quản lý tác động đến khách thể quản lý thông qua một cá nhân, nhóm hay tổ chức để xem xét thực tế, đánh giá, giám sát thành quả hoạt động, đồng thời uốn nắn, điều chỉnh các sai sót lệch lạc nhằm thúc đẩy hệ thống sớm đạt được mục tiêu đã định. Để tiến hành kiểm tra, cần phải có các tiêu chuẩn, nội dung và phương pháp kiểm tra, dựa trên các nguyên tắc khoa học để hình thành hệ thống kiểm tra thích hợp Ngoài 4 chức năng quản lý trên, nguồn thông tin là yếu tố cực kỳ quan trọng trong quản lý. Vì thông tin là nền tảng, là huyết mạch của quản lý, không có thông tin thì không có quản lý hoặc quản lý mắc sai phạm, nhờ có thông tin mà sự trao đổi qua lại giữa các chức năng được cập nhật thường xuyên, từ đó có biện pháp xử lý kịp thời và hiệu quả Có thể mô hình hoá mối quan hệ giữa các thành tố trên bằng mô hình sau: 1.2.2. Quản lý giáo dục 1..2.2.1. Khái niệm quản lý giáo dục Về nội dung khái niệm quản lý có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm QLGD. Tuy vậy, xét trên bình diện chung, chúng ta có thể tiếp cận một số khái niệm QLGD như sau: Tác giả Hồ Văn Liên cho rằng QLGD là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt kết quả mong muốn một cách có hiệu quả nhất. Tùy theo việc xác định đối tượng quản lý mà QLGD được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau: Tác giả Trần Kiểm quan niệm QLGD được phân chia thành 2 cấp: vĩ mô và vi mô. [17, tr.36] Đối với cấp vĩ mô: “ QLGD được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục. “ Đối với cấp vi mô:” QLGD được hiểu là hệ thống những tác động tự giác( có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường.” Quan niệm của tác giả Đặng Quốc Bảo:” QLGD theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội. Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người; Tuy nhiên vẫn là giáo dục thế hệ trẻ cho nên quản lý giáo dục đựơc hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân. Như vậy QLGD là quản lý một quá trình kinh tế xã hội nhằm thực hiện đồng bộ, hài hòa sự phân hóa xã hội để tái sản xuất sức lao động có kỹ thuật phục vụ các yêu cầu phát triển KT-XH 1.2.2.2. Đặc trưng của quản lý giáo dục QLGD là một quá trình. Quá trình QLGD là hoạt độngcủa các chủ thể và đối tượng quản lý thống nhất với nhau trong một cơ cấu nhất định nhằm đạt mục đích đề ra của quản lý bằng cách thực hiện các chức năng nhất định và vận dụng các biện pháp, nguyên tắc, công cụ quản lý thích hợp. QLGD nằm trong phạm trù quản lý xã hội nói chung. Tuy nhiên QLGD có những đặc trưng riêng: - QLGD là loại quản lý nhà nước. Các hành động quản lý trong giáo dục dựa trên cơ sở quyền lực nhà nước mà đại diện là các cơ quan QLGD và đào tạo các cấp từ Bộ GD&ĐT đến các cơ sở đào tạo. Mọi hoạt động của chủ thể quản lý và đối tượng chịu sự quản lý đều thông qua hệ thống các quy phạm pháp luật như luật Giáo dục, Nghị quyết của Quốc hội, Nghị định của Chính phủ… - QLGD là quản lý con người. Quản lý con người trong ngành giáo dục có ý nghĩa là đào tạo con người, dạy cho họ thực hiện vai trò xã hội, những chức năng, nghiã vụ trách nhiệm của mình, phát triển nghề nghiệp để họ làm tròn trách nhiệm xã hội của mình. - QLGD thuộc phạm trù phương pháp chứ không phải mục đích. Nếu chúng ta xem QLGD là phương pháp thì sẽ luôn luôn tìm cách đổi mới công tác quản lý của mình sao cho đạt được mục đích đề ra mà không bị rơi vào tình trạng độc đoán, chuyên quyền áp đặt đối với người chịu sự quản lý để đạt ý đồ cá nhân. - QLGD cũng có 2 thuộc tính chủ yếu là: tổ chức kỹ thuật và kinh tế xã hội. Trong mọi lĩnh vực của cuộc sống khi đã xuất hiện quản lý thì thuộc tính đầu tiên là tổ chức – kỹ thuật. Thuộc tính này thể hiện phải có một tổ chức để thực hiện công tác quản lý và yêu cầu thường xuyên cải tiến đổi mới công việc nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động trong một tổ chức. QLGD có hiệu quả sẽ đem lại lợi ích cho xã hội đó là tính kinh tế xã hội. - QLGD được xem là hệ tự quản lý nó bao hàm bởi các đặc điểm tự điều chỉnh, tự hoàn thiện nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra. - QLGD vừa là khoa học vừa là nghệ thuật. QLGD đã trở thành một ngành khoa học, có cơ sở lý luận riêng của nó. Người cán bộ quản lý cần có trình độ khoa học về quản lý, am hiếu các khoa học về lĩnh vực xã hội, con người, giáo dục, triết học, luật học … và phải có nghệ thuật quản lý được tích lũy từ những kinh nghiệm quản lý và sáng tạo của chủ thể quản lý 1.2.2.3. Nội dung của quản lý giáo dục QLGD là một quá trình với các thành tố: Mục tiêu đào tạo; Nội dung đào tạo’ phương pháp đào tạo; Cơ sở vật chất, thiết bị đào tạo; Lực lượng đào tạo ( thầy); Đối tượng đào tạo ( trò); Kết quả đào tạo. Các thành tố của quá trình giáo dục đào tạo là một thể thống nhất chúng có tác động tương hỗ lẫn nhau. Nội dung QLGD gắn liền với từng thành tố trong quá trình giáo dục. Đó là xác định cho được mục tiêu đào tạo. Mục tiêu đào tạo phải gắn liền với mục tiêu phát triển con người đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội. Mục tiêu này phải được thực hiện xuyên suốt cả quá trình đào tạo. Trên cơ sở mục tiêu để xây dựng nội dung và chọn lựa phương pháp, phương tiện đào tạo. Việc quản lý nội dung, phương pháp, phương tiện phải theo hướng đổi mới, hiện đại nhằm thích ứng với các điều kiện tác động của bên ngoài như: tác động của khoa học công nghệ, yêu cầu của CNH-HĐH, yêu cầu đổi mới, tác động của môi trường phát triển KTXH, QLGD đào tạo gắn liền với 2 thành tố chủ đạo trong quá trình đào tạo. Làm sao phát huy vai trò chủ đạo của thầy và tính chủ động của người học. Cuối cùng là cần tổ chức đánh giá được kết quả đào tạo so với mục tiêu đề ra. 1.2.3. Những vấn đề cơ bản về quản lý hoạt động đào tạo nghề. 1.2.3.1. Khái niệm nghề Khái niệm nghề theo quan niệm ở mỗi quốc gia đều có sự khác nhau nhất định.Cho đến nay thuật ngữ “nghề” được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Dưới đây là một số khái niệm về nghề. + Khái niệm nghề ở Nga được định nghĩa: " Là một loại hoạt động lao động đòi hỏi có sự đào tạo nhất định và thường là nguồn gốc của sự sinh tồn" + Khái niệm nghề ở Pháp: " Là một loại lao động có thói quen về kỹ năng, kỹ xảo của một người để từ đó tìm được phương tiện sống". + Khái niệm nghề ở Anh được định nghĩa: "Là công việc chuyên môn đòi hỏi một sự đào tạo trong khoa học học nghệ thuật". + Khái niệm nghề ở Đức được định nghĩa:" Là hoạt động cần thiết cho xã hội ở một lĩnh vực lao động nhất định đòi hỏi phải được đào tạo ở trình độ nào đó". Như vậy nghề là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử rất phổ biến gắn chặt với sự phân công lao động, với tiến bộ khoa học kỹ thuật, và văn minh nhân loại. Bởi vậy được nhiều ngành khoa học khác nhau nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau + Ở Việt nam, nhiều định nghĩa nghề được đưa ra song chưa được thống nhất, chẳng hạn có định nghĩa được nêu: "Nghề là một tập hợp lao động do sự phân công lao động xã hội quy định mà giá trị của nó trao đổi được. Nghề mang tính tương đối, nó phát sinh, phát triển hay mất đi do trình độ của nền sản xuất và nhu cầu xã hội. Mặc dù khái niệm nghề được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau song chúng ta có thể nhận thấy một số nét đặc trưng nhất định sau: - Đó là hoạt động, là công việc về lao động của con người được lặp đi lặp lại. - Là sự phân công lao động xã hội, phù hợp với yêu cầu xã hội. - Là phương tiện để sinh sống. - Là lao động kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt có giá trị trao đổi trong xã hội đòi hỏi phải có một quá trình đào tạo nhất định. Hiện nay xu thế phát triển của nghề chịu tác động mạnh mẽ của tác động KHKT và văn minh nhân loại nói chung và về chiến lược phát triển KT-XH của mỗi quốc gia nói riêng. Bởi vậy phạm trù "Nghề" biến đổi mạnh mẽ và gắn chặt với xu hướng phát triển KT-XH của đất nước. 1.2.3.2. Một số quan niệm cơ bản về nghề và đào tạo nghề - Đào tạo: “Đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm truyền đạt các kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo trong lý thuyết và thực tiễn, tạo ra năng lực để thực hiện thành công một hoạt động nghề nghiệp hoặc xã hội cần thiết. Như vậy, đào tạo là sự phát triển có hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo cho mỗi cá nhân để họ thực hiện một nghề hoặc một nhiệm vụ cụ thể một cách tốt nhất. Đào tạo được thực hiện bởi các loại hình tổ chức chuyên ngành nhằm thay đổi hành vi và thái độ làm việc của con người, tạo cho họ khả năng đáp ứng được tiêu chuẩn và hiệu quả của công việc chuyên môn. - Nghề: Là một hình thức phân công lao động, nó đòi hỏi kiến thức lý thuyết tổng hợp và thói quen thực hành để hoàn thành những công việc nhất định như nghề mộc, nghề cơ khí vv… - Đào tạo nghề: “Đào tạo nghề là những hoạt động nhằm mục đích nâng cao tay nghề hay kỹ năng, kỹ xảo của mổi cá nhân đối với công việc hiện tại và trong tương lai”. Đào tạo nghề bao gồm hai quá trình có quan hệ hữu cơ với nhau. Đó là: + Dạy nghề: Là quá trình giảng viên truyền bá những kiến thức về lý thuyết và thực hành để các học viên có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp. + Học nghề: “Là quá trình tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thực hành của người lao động để đạt được một trình độ nghề nghiệp nhất định”. Đào tạo nghề cho người lao động là giáo dục kỹ thuật sản xuất cho người lao động để họ nắm vững nghề nghiệp, chuyên môn bao gồm đào tạo nghề mới, đào tạo nghề bổ sung, đào tạo lại nghề. Đào tạo nghề mới: Là đào tạo những người chưa có nghề, gồm những người đến tuổi lao động chưa được học nghề, hoặc những người trong độ tuổi lao động nhưng trước đó chưa được học nghề. Đào tạo mới nhằm đáp ứng tăng thêm lao động đào tạo nghề cho Xã hội. Đào tạo lại nghề: Là đào tạo đối với những người đã có nghề, có chuyên môn nhưng do yêu cầu mới của sản xuất và tiến bộ kỹ thuật dẫn đến việc thay đổi cơ cấu ngành nghề, trinh độ chuyên môn. Một số công nhân được đào tạo lại cho phù hợp với cơ cấu ngành nghề và trình độ kỹ thuật mới. Đào tạo lại thường được hiểu là quá trình nhằm tạo cho người lao động có cơ hội để học tập một lĩnh vực chuyên môn mới để thay đổi nghề. Bồi dưỡng nâng cao tay nghề: Bồi dưỡng có thể coi là quá trình cập nhật hóa kiến thức còn thiếu, đã lạc hậu, bổ túc nghề, đào tạo thêm hoặc củng cố các kỹ năng nghề nghiệp theo từng chuyên môn và thường được xác nhận bằng một chứng chỉ hay nâng lên bậc cao hơn. Như vậy, xác định rõ ranh giới giữa đào tạo, bồi dưỡng và đào tạo lại nghề hiện nay là một việc phức tạp, khó khăn. Dựa vào lý thuyết qui luật số đông, các khái niệm trên được phân biệt theo các tiêu chí sau: Nội dung: Nội dung học có liên quan tới nghề chuyên môn mới hay cũ. Mục đích: Để tiếp tục làm nghề cũ hay đổi nghề. Lần đào tạo: Lần đầu tiên hay tiếp nối. Văn bằng: Được cấp bằng, chứng chỉ hay không được cấp sau khi học. Sự phân biệt có thể được tóm tắc ở biểu 1: Biểu 1.2. Tiêu chí phân loại đào tạo, bồi dưỡng, đào tạo lại. Tiêu chí phân loại Đào tạo Bồi dưỡng Đào tạo lại Nội dung Bắt đầu Tiếp tục Học nghề mới Mục đích học Để có nghề Để tiếp tục nghề cũ Để có nghề mới Thời gian học 3 tháng và 18 tháng 13 tháng 36 tháng Văn bằng Bằng nghề Chứng chỉ nâng bậc Chứng chỉ nâng bậc Nguồn: “Vấn đề bồi dưỡng và đào tạo lại các loại hình lao động đáp ứng nhu cầu của sự phát triển Kinh tế - Xã hội”. Đề tài cấp Nhà nước KX07 – 14. Đào tạo nghề là một bộ phận quan trọng của hệ thống giáo dục quốc dân. Theo qui định của Luật giáo dục, hệ thống giáo dục bao gồm: Giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục học nghề, giáo dục đại học và sau đại học. Sơ đồ 1: Hệ thống đào tạo nghề trong hệ thống giáo dục quốc dân Theo sơ đồ hệ thống khung giáo dục quốc dân thì đào tạo nghề được thực hiện ở các cấp khác nhau, ở lứa tuổi khác nhau và được phân luồng để đào tạo nghề phù hợp với trình độ về văn hóa, khả năng phát triển của con người và độ tuổi. Sơ đồ trên cho thấy sự liên thông giữa các cấp học, các điều kiện cần thiết để học nghề hoặc các cấp học tiếp theo. Nó là cơ sở quản lý giáo dục, nâng cao hiệu quả của đào tạo, tránh lãng phí trong đào tạo (cả người học và xã hội), tránh trùng lặp nội dung chương trình, đồng thời là cơ sở đánh giá trình độ người học và cấp các văn bằng, chứng chỉ tốt nghiệp. Tuy vậy, sơ đồ trên cũng cho thấy sự liên thông giữa các cấp đào tạo nghề chưa rõ ràng. Bộ phận được phân luồng học nghề từ cấp học dưới khi muốn học nghề ở cấp cao hơn thì theo con đường nào hay thì lại phải tiếp tục học cấp cao hơn thì mới chuyển được. Đây là điều hết sức lưu ý trong viêc xây dựng hệ thống chương trình, khung giáo dục quốc dân, đảm bảo tính liên thông giữa các cấp học nghề. 1.2..3.3. Các hình thức đào tạo nghề Một trong những nhiệm vu quan trọng của kế hoạch đào tạo là xác định các hình thức đào tạo thích hợp. Hình thức đào tạo là cơ sở để xây dựng kế hoạch đào tạo, đồng thời cũng là cơ sở để tính toán hiệu quả kinh tế của đào tạo. Tùy theo yêu cầu và điều kiện thực tế có thể áp dụng hình thức đào tạo này hay hình thức đào tạo khác. Những hình thức đào tạo nghề đang được áp dụng chủ yếu hiện nay là: - Kèm cặp trong sản xuất: Là hình thức đào tạo trực tiếp tại nơi làm việc, chủ yếu là thực hành ngay trong quá trình sản xuất do xí nghiệp tổ chức. Kèm cặp trong sản xuất được tiến hành dưới hai hình thức: kèm cặp theo cá nhân và kèm cặp theo tổ chức, đội sản xuất. Với kèm cặp theo cá nhân, mỗi thợ học nghề được một công nhân có trình độ tay nghề cao hướng dẫn. Người hướng dẫn vừa sản xuất vừa tiến hành dạy nghề theo kế hoạch. Với hình thức kèm cặp theo tổ, đội sản xuất, thợ học nghề được tổ chức thành từng tổ và phân công cho những công nhân dạy nghề thoát ly sản xuất chuyên trách trình độ nghề nghiệp và phương pháp sư phạm nhất định. Quá trình đào tạo được tiến hành qua các bước: Bước 1: Phân công những công nhân có tay nghề cao vừa sản xuất vừa hướng dẫn thợ học nghề. Trong bước này, người hướng dẫn vừa sản xuất vừa phải giảng cho người học về cấu tạo máy móc thiết bị, nguyên tắc vận hành, qui trình công nghệ, phương pháp làm việc. Người học theo dõi những thao tác, phương pháp làm việc của người hướng dẫn. Đồng thời doanh nghiệp hoặc phân xưởng tổ chức dạy lý thuyết cho người học do kỹ sư hay kỹ thuật viên đảm nhận. Bước 2: Giao việc làm thử, người học bắt tay vào làm thử dưới sự kiểm tra uốn nắn của người hướng dẫn. Bước 3: Giao việc hoàn toàn cho người học nghề khi người học nghề có thể tiến hành công việc độc lập được, những người hướng dẫn vẫn thường xuyên theo dõi giúp đỡ. - Các lớp cạnh doanh nghiệp: Là các lớp do doanh nghiệp tổ chức nhằm đào tạo riêng cho mình hoặc cho các doanh nghiệp cùng ngành, cùng lĩnh vực. Chủ yếu đào tạo nghề cho công nhân mới được tuyển dụng, đào tạo lại nghề, nâng cao tay nghề, chuyển giao công nghệ, kỹ thuật mới. Hình thức đào tạo này không đòi hỏi có đầy đủ cơ sở vật chất, kỹ thuật riêng, không cần bộ máy chuyên trách mà dựa vào các điều kiện sẵn có của doanh nghiệp. Chương trình đào tạo gồm hai phần: lý thuyết và thực hành sản xuất, phần lý thuyết được giảng tập trung do các kỹ sư, cán bộ kỹ thuật phụ trách, phần thực hành được tiến hành ở các phân xưởng do các kỹ sư hoặc công nhân lành nghề hướng dẫn. - Các trường chính qui: Đáp ứng yêu cầu sản xuất ngày càng phát triển trên cơ sở kỹ thuật hiện đại, các Bộ hoặc Ngành thường tổ chức các trường dạy nghề tập trung, qui mô lớn, đào tạo công nhân có trình độ cao, chủ yếu là đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật, kỹ thuật viên có trình độ cao. Thời gian đào tạo từ hai đến bốn năm tùy theo nghề đào tạo, ra trường được cấp bằng nghề. Khi tổ chức các trường dạy nghề cần phải có bộ máy quản lý, đội ngũ giáo viên chuyên trách và cơ sở vật chất riêng cho đào tạo. Để nâng cao chất lượng đào tạo các trường cần phải đảm bảo các điều kiện sau đây: + Phải có đội ngũ giáo viên đủ khả năng chuyên môn và kinh nghiệm giảng dạy. + Phải được trang bị máy móc, thiết bị phục vụ cho giảng dạy và học tập, các phòng thí nghiệm, xưởng trường. Nhà trường cần tổ chức các phân xưởng sản xuất vừa phục vụ cho giảng dạy vừa sản xuất của cải vật chất cho xã hội. Nếu không có điều kiện tổ chức xưởng sản xuất thì nên để gần các doanh nghiệp lớn của ngành, tạo điều kiện thuận lợi cho dạy và học. Các tài liệu và sách giáo khoa phải được biên soạn thống nhất cho các nghề, các trường. - Các trung tâm dạy nghề: Đây là loại hình đào tạo ngắn hạn, thường dưới một năm. Chủ yếu là đào tạo phổ cập nghề cho thanh niên và người lao động. 1.2.3.4. Hệ thống tổ chức đào tạo nghề Hệ thống tổ chức đào tạo dạy nghề gồm các trường chính qui và các cơ sở dạy nghề. Hệ thống đào tạo chính qui: Bao gồm các trường thuộc Bộ, Ngành và các địa phương. Số học sinh đào tạo các trường này được nhà nước giao chỉ tiêu hàng năm và cấp kinh phí cho các trường theo chỉ tiêu; qui chế thi, cấp bằng và cấp chứng chỉ theo qui định thống nhất của Nhà nước. Các cơ sở đào tạo nghề: Theo bộ Luật Lao động bao gồm tất cả các cơ sở đào tạo ngoài hệ thống trường đào tạo chính qui như: các trường dạy nghề của các tổ chức, cơ quan, Tổng công ty, doanh nghiệp; các trung tâm đào tạo nghề quận, huyện; các trung tâm dịch vụ việc làm. Các trung tâm đào tạo nghề quận, huyện và các trung tâm dịch vụ việc làm đào tạo các lớp do các ngành và các thành phần kinh tế yêu cầu. Kinh phí của các cơ sở này một phần được ngân sách nhà nước cấp, một phần do Bộ, địa phương chủ quản và người học tự đóng góp. Các trường dạy nghề tư thục và các lớp dạy nghề tư nhân: do các tổ chức, cá nhân tự tổ chức theo qui định của Nhà nước. Kinh phí học tập chủ yếu do người học phải đóng góp. Hợp tác Quốc tế về đào tạo nghề: Sự mở của nền kinh tế, chính sách khuyến khích tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài khiến cho nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế, các công ty lớn trên thế giới đã tìm đến Việt Nam hợp tác trong nhiều lĩnh vực. Chúng ta có thể khai thác khả năng của các tổ chức nước ngoài trong việc đào tạo bồi dưỡng nghề với hình thức đào tạo thông qua hợp đồng giữa các bên, qua các dự án đầu tư có khoản mục đào tạo mới và đào tạo lại. Sơ đồ 2. Hệ thống đào tạo nghề Căn cứ vào thời gian đào tạo, đào tạo dạy nghề được chia làm hai loại: Đào tạo dạy nghề dài hạn (cả đào tạo mới và đào tạo lại): Là hình thức đào tạo phổ biến tại các trường chính qui của Nhà nước, các Bộ, Ngành và các tỉnh. Thời gian đào tạo nghề dài hạn thường từ một năm trở lên. Đào tạo dạy nghề ngắn hạn: Là cách tổ chức dạy nghề trong thời gian ngắn (từ ba đến mười hai tháng). Người học vừa học lý thuyết vừa thực hành theo hình thức kèm cặp tại nơi sản xuất, chủ yếu là rèn luyện kỹ năng thực hành nghề, chuyển giao công nghệ… Nhằm tạo cơ hội cho người học tìm được việc làm hoặc tự tạo ra việc làm. 1.2.4. Những vấn đề cơ bản về chất lượng đào tạo nghề, các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề 1.2.4.1. Một số quan niệm về chất lượng, chất lượng đào tạo nghề a. Quan niệm về chất lượng Chất lượng là gì? Có rất nhiều định nghĩa và cách lý giải khác nhau. Có ý kiến cho rằng chất lượng là sự xuất chúng, tuyệt hảo, là giá trị bằng tiền, là sự biến đổi về chất và là sự phù hợp với mục tiêu. Các quan niệm về chất lượng chúng ta có thể thấy qua 6 định nghĩa sau: + Chất lượng là “tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật (sự việc)… làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với sự vật (sự việc) khác” (Từ điển tiếng Việt phổ thông). + Chất lượng là “cái làm nên phẩm chất, giá trị của sự vật” hoặc là “cái tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác sự vật kia” (Từ điển tiếng Việt thông dụng – Nhà xuất bản Giáo dục – 1998). + Chất lượng là “mức hoàn thiện, là đặc trưng so sánh hay đặc trưng tuyệt đối, dấu hiệu đặc thù, các dữ kiện, các thông số cơ bản” (Oxford Poket Dictationary). + Chất lượng là “tiềm năng của một sản phẩm hay dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu người sử dụng” (Tiêu chuẩn Pháp – NFX 50-109). + Chất lượng là “tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể (đối tượng) đó khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc nhu cầu tiềm ẩn” (TCVN- ISO 8402). Tóm lại: Chất lượng là khái niệm trừu tượng, phức tạp và là khái niệm đa chiều, nhưng chung nhất đó là khái niệm phản ánh bản chất của sự vật và dùng để so sánh sự vật này với sự vật khác. b. Quan niệm về chất lượng đào tạo nghề Khái niệm “chất lượng” đã trừu tượng và phức tạp thì khái niệm về “chất lượng đào tạo nghề ” càng phức tạp hơn bởi liên quan đến sản phẩm là giá trị của con người, một sự vật, sự việc. Như vậy có thể hiểu chất lượng là để chỉ sự hoàn hảo, phù hợp, tốt dẹp. Chất lượng đào tạo nghề là khái niệm đa chiều, không thể trực tiếp đo đếm được và cảm nhận được. Chất lượng đào tạo nghề phản ánh trạng thái đào tạo nghề nhất định và trạng thái đó thay đổi phụ thuộc vào các yếu tố tác động đến nó. Sẽ không thể biết được chất lượng đào tạo nếu chúng ta không đánh giá thông qua một hệ thống các chỉ tiêu và các yếu tố ảnh hưởng. Khái niệm chất lượng đào tạo nghề là để chỉ chất lượng các công nhân kỹ thuật được đào tạo trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp theo mục tiêu và chương trình đào tạo xác định trong các lĩnh vực ngành nghề khác nhau, biểu hiện một cách tổng hợp nhất ở mức độ chấp nhận của thị trường lao động, của xã hội đối với kết quả đào tạo. Chất lượng đào tạo nghề còn phản ánh kết quả đào tạo của các cơ sở đào tạo nghề, của cả hệ thống đào tạo nghề. Chất lượng đào tạo nghề biến đổi theo thời gian và theo không gian dưới tác động của các yếu tố. 1.2..4.2. Các yếu tổ ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề Để đo lường chất lượng đào tạo nghề chúng ta thường tập trung vào 2 khối đối tượng: bản thân người công nhân kỹ thuật và cơ sở đào tạo nghề ( Chất lượng cơ sở đào tạo) Quá trình đào tạo nghề có một số đặc trưng khác với giáo dục phổ thông và giáodục đại học. Đó là quá trính đào tạo trên cơ sở thiếp thu kết quả giáo dục phổ thông để đào tạo về nghề nghiệp cho học sinh học nghề. Việc đào tạo để hình thành năng lực nghề nghiệp giữ vai trò then chốt, chủ đạo. Quá trình đào tạo chú trọng đến một hệ thống các kỹ năng thông qua thực hành, luyện tập. Đó chính là những yêu cầu, vị trí công tác, haọt động nghề nghiệp của người công nhân kỹ thuật. Đào tạo nghề được xem xét bởi nhiều thành tố thể hiện ở sơ đồ sau: SƠ ĐỒ Như vậy chất lượng đào tạo nghề phụ thuộc vào các yếu tố: - Chất lượng đầu vào: ( bản thân người học nghề): Trình độ văn hóa, sở trường nguyện vọng, sức khỏe, tình trạng kinh tế … của người học nghề. - Quá trình đào tạo ( hoạt động đào tạo nghề của cơ sở đào tạo nghề) + Mục tiêu, nội dung, chương trình đào tạo; + Đội ngũ giáo viên, phương pháp đào tạo và cán bộ quản lý; ( phẩm chất, năng lực) + Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học phù hợp đáp ứng nghề đào tạo ( số lượng, chất lượng, hiệu quả hoạt động) + Tài chính ( kinh phí định mức đào tạo, vật tư thực hành, chi phí quản lý, thù lao giáo viên …) + Dịch vụ đào tạo ( cư xá, tư vấn việc làm, thông tin thị trường lao đông …) - Học sinh tốt nghiệp: Năng lực và phẩm chất đạt được sau khi đào tạo theo mục tiêu đào tạo; Sức khỏe đáp ứng nghề nghiệp; Kỹ năng sống ( giao tiếp, hoạt động xã hội) - Tham gia thị trường lao động( từ 6 đến 12 tháng kể từ khi ra trường): trình độ chuyên môn đáp ứng yếu cầu làm việc ( năng suất, tổ chức hoạt động); Mức độ hoàn thành nhiệm vụ công nhân kỹ thuật; Tính sáng tạo và thích nghi trong công việc. Việc đánh giá kết quả giáo dục cần phản ánh được chất lượng nhân cách có phù hợp hay không với yêu cầu đề ra. Cần phải xem xét chất lượng đầu vào ( tuyển sinh học sinh học nghề), chất lượng của quá trình đào tạo và chất lượng đầu ra ( tốt nghiệp và tham gia vào cuộc sống). Đánh giá chất lượng đào tạo không chỉ nhiệm vụ của các đơn vị đào tạo nghề mà còn là của xã hội. Đặc biệt là sự đánh giá trực tiếp của những người sử dụng sản phẩm đào tạo( các doanh nghiệp, các nhà sản xuất …) 1.2.4.4. Yêu cầu đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề trong sự nghiệp công nghiệp hóa- hiện đại hóa Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một tất yếu khách quan đối với nước ta nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội cao hơn cả hai mặt” trình độ kỹ thuật và cơ cấu sản xuất gắn liền với thành tựu của cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại. CNH-HĐH còn đòi hỏi phải có một cơ cấu lao động hợp lý, nghĩa là phải có một tỉ lệ phù hợp giữa các thành tố của nguồn lực lao động. Phải chú ý đến công nhân lao động lành nghề, nâng cao năng lực thực hành và tăng hàm lượng chất xám sao cho đội ngũ công nhân lành nghề và các kỹ nghệ gia, kỹ thuật gia phải chiếm tỉ trọng chủ yếu. Đây là một tiêu chí đòi hỏi sự phấn đấu không ngừng của cả nước, toàn Xã hội, toàn ngành Giáo dục, giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề nói riêng trong giai đoạn trước mắt cũng như lâu dài mà nghị quyết Đại hội IX đã xác định: “Nâng tỉ lệ lao động qua đào tạo lên 30% vào năm 2005”. “Số học sinh công nhân kỹ thuật tăng 11-12%/ năm”. Trên thực tế, trong nhiều năm qua chúng ta mới đầu tư chú ý đến phát triển giáo dục phổ thông, giáo dục đại học chưa coi trọng giáo dục nghề nghiệp, dẫn đến giáo dục chuyên nghiệp, nhất là đạo tạo công nhân mất cân đối. Qui mô đào tạo nghề hiện nay vẫn quá nhỏ bé, manh mún, thiết bị đào tạo lạc hậu, không đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa. Chính những vấn đề nêu trên đòi hỏi phải không ngừng đẩy mạnh công tác đào tạo nghề, không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo. Nâng cao chất lượng đào tạo nghề còn phụ thuộc yêu cầu phát triển nền kinh tế, thực hiện liên doanh liên kết với nước ngoài, chuyển giao công nghệ mới cho các khu công nghiệp, khu chế xuất. Trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đồng thời với phát triển kinh tế trong doanh nghiệp, cần hình thành các khu chế xuất, khu công nghiệp, liên doanh liên kết với nước ngoài. Từ đó phát sinh tăng yêu cầu về mặt lao động có kỹ năng, kỷ xảo, có chuyên môn cao. Đặc biệt là trong quá trình công nghiệp hóa, số lao động dôi dư với chất lượng nghề nghiệp không đáp ứng kịp thời nhu cầu tuyển dụng ở các khu công nghiệp, khu chế xuất. Một số lớn đã qua đào tạo nhưng không đáp ứng được yêu cầu người sử dụng lao động. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi chất lượng lao động phải cao không những để đáp ứng nhu cầu lao động trong nước mà còn để đáp ứng nhu cầu xuất khẩu lao động, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế. Việc phân công lao động và hợp tác quốc tế là xu hướng ngày càng phát triển. Xuất khẩu lao động là chiến lược lâu dài, thường xuyên của các quốc gia phát triển. Đối với nước ta, xuất khẩu lao động không những vừa giải quyết việc làm cho lao động, tăng thu nhập cho ngân sách nhà nước, tăng thu nhập cho bản thân gia đình người lao động, mà còn tiếp thu học tập chuyên môn kỹ thuật hiện đại của các nước có nền công nghiệp phát triển. Tuy nhiên, chất lượng đội ngũ lao động xuất khẩu của ta mặc dù được cải thiện nhưng nhìn chung còn hạn chế. Yếu nhất là khâu ngoại ngữ, tay nghề chưa đáp ứng được nhu cầu của công nghệ sản xuất hiện đại, nhận thức về chủ thợ chưa rõ ràng, ý thức kỹ luật và chấp hành hợp đồng đã kỹ kết của một số bộ phận lao động còn kém, Không ít người lao động quan niệm đi làm việc ở nước ngoài là để kiếm tiền nhiều, khi không đạt được thì vô kỷ luật, bỏ hợp đồng đi làm việc khác, gây ảnh hưởng đến uy tín lao động Việt Nam. Tóm lại, nước ta tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện tiềm lực kinh tế còn nhỏ bé, tích lũy từ nội bộ nền kinh tế còn thấp, tài nguyên khoáng sản không nhiều… Do đó, để có thể tiếp cận được với nền khoa học - kỹ thuật đang tiến nhanh như vũ bão của thế giới, từng bước rút ngắn khoảng cách và đuổi kịp với sự phát triển của các nước, Đảng ta đã xác định phát triển nguồn lực nói chung, nâng cao chất lượng đội ngũ lao động nói riêng là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong suốt quá trình CNH-HĐH. Vấn đề cấp bách hiện nay là phải khẩn trương bồi dưỡng về mọi mặt cho số công nhân, số lao động chưa qua đào tạo đầy đủ, tăng nhanh về qui mô với chất lượng cao. Muốn vậy phải nâng cao chất lượng dạy nghề, bởi những năm qua cùng với sự suy giảm về số lượng, chất lượng dạy nghề cũng đã có những giảm sút nghiêm trọng. Nguyên nhân của sự giảm sút đó là: - Trang thiết bị hiện nay ở các cơ sở dạy nghề thiếu thốn, lạc hậu. - Đội ngũ giáo viên dạy nghề chuyên nghiệp bị phân tán, giảm về số lượng. Trình độ không được nâng cao cho phù hợp với sự phát triển nhanh chóng của khoa học - công nghệ. Trình độ sư phạm và quản lý nhiều năm qua ít được chú ý, bổ sung, bồi dưỡng, đào tạo lại. - Chương trình nội dung đào tạo, hệ thống giáo trình vẫn trong tình trạng lạc hậu, thiếu thống nhất, không theo một chuẩn mực nào, vì vậy không theo kịp sự tiến bộ của khoa học – công nghệ mới. Tổng hợp những ý kiến trên, dẫn đến chất lượng đào tạo đặc biệt là đào tạo kỹ năng nghề của người học nghề chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động, nên rất khó tìm việc làm; thiếu công nhân lành nghề, công nhân bậc cao, không đáp ứng được yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Có thể nói rằng, bắt đầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là quá trình phát triển theo chiều sâu, trong đó chất lượng lao động có ý nghĩa quyết định. Cùng với việc mở rộng qui mô đào tạo, nâng cao chất lượng dạy nghề là một đòi hỏi khách quan, cấp bách nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. 1.2.5. Vai trò của đào tạo nghề đối với sự phát triển nguồn nhân lực 1.2.5.1. Một số khái niệm: - Nguồn lao động: là tổng số nhân khẩu có khả năng lao động, bao gồm nhân khẩu ở độ tuổi lao động và nhân khẩu ở ngoài độ tuổi lao động có tham gia vào quá trình lao động. - Nguồn nhân lực: là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương, tức là nguồn lao động, những người lao động có kỹ năng được chuẩn bị sẵn sàng tham gia một công việc nào đó trong cơ cấu lao động xã hội 1.2.5.2. Vai trò của đào tạo nghề đối với sự phát triển nguồn nhân lực: Với mục tiêu "Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài" nhằm đáp ứng đòi hỏi sự phát triển KT-XH. Cùng với các hệ thống giáo dục, hệ thống dạy nghề có chức năng chủ yếu thực hiện các mục tiêu giáo dục nói trên. Đào tạo nghề góp phần quan trọng vào mục tiêu đào tạo nhân lực: " Mục tiêu của dạy nghề là đào tạo con người lao động có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp ở các trình độ khác nhau, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người lao động có khả năng tìm việc làm đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH, củng cố quốc phòng an ninh" [9;12] Dạy nghề trong thời kỳ CNH-HĐH bao hàm nội dung rất phong phú từ "Dạy chữ, dạy người" tới dạy nghề, dạy đạo lý nghề nghiệp, dạy pháp luật, tác phong công nghiệp. Dạy nghề phải gắn liền với giải quyết việc làm, với sử dụng người lao động có tay nghề, với phát triển nhân lực bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài. Để đảm bảo phát triển nguồn nhân lực, Nghị quyết Đại hội IX đã chỉ rõ" Tiếp tục đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp giảng dạy và phương thức đào tạo đội ngũ lao động, có chất lượng cao, đặc biệt là trong các ngành kinh tế mũi nhọn, công nghệ cao. Gắn việc hình thành các khu công nghiệp, khu công nghệ cao, với hệ thống các trường đào tạo nghề. Phát triển nhanh và phân bố hợp lý hệ thống trường dạy nghề trên địa bàn cả nước. Mở rộng các hình thức đào tạo nghề đa dạng, linh hoạt, năng động" Trước yêu cầu phát triển nguồn nhân lực thực hiện sự nghiệp CNH-HĐH, công tác đào tạo nghề cần phải được đẩy mạnh cả về số lượng và chất lượng theo 2 hướng đào tạo nghề dài hạn và ngắn hạn, trong đó đào tạo nghề dài hạn giữ vai trò chủ đạo. Chính vì vậy giáo dục đào tạo nói chung và đào tạo nghề nói riêng có tầm quan trọng góp phần quyết định chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng sự nghiệp đổi mới và hội nhập của đất nước. “ Để đáp ứng yêu cầu về con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ CNH-HĐH, cần tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện về GD-ĐT”.[ 13, tr.201] 1.2.6. Quản lý đào tạo nghề Quản lý đào tạo nghề là một trong những vấn đề cụ thể của QLĐT, quản lý đào tạo nghề được hiểu là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch và hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ thống đào tạo nghề phát triển, vận hành theo đường lối chủ trương của Đảng và thực hiện được những yêu cầu của xã hội, đáp ứng sự nghiệp phát triển KT-XH. Quản lý đào tạo nghề bao gồm các loại hoạt động trong quá trình đào tạo như sau: - Xác định mục tiêu, nội dung, chương trình, kế hoạch đào tạo nghề. - Xây dựng các điều kiện cần thiết khả thi: Đội ngũ giáo viên, cán bộ kỹ thuật, cơ sở vật chất, trường, xưởng, nguồn tài chính, môi trường sư phạm ... - Xác định quy mô phát triển số lượng, chất lượng của từng ngành nghề đào tạo. - Tổ chức chỉ đạo hoạt động dạy và học của thày và trò. - Hoàn thiện cơ chế tổ chức quản lý. - Phát triển cơ chế cộng đồng, phối hợp trong và ngoài - Tổ chức đánh giá chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề 1.3. CÁC ĐẶC TRƯNG CỦA QUẢN LÝ ĐÀO TẠO NGHỀ TẠI CÁC CƠ SỞ CÓ ĐÀO TẠO NGHỀ 1.3.1. Quản lý các mục tiêu đào tạo nghề: Quản lý mục tiêu đào tạo nghề là quản lý việc xây dựng và thực hiện mục tiêu của tổ chức trong quá trình đào tạo nghề, là quản lý một hệ thống những yêu cầu lâu dài và trước mắt của xã hội đối với sự phát triển nhân cách của người được đào tạo, đối với những phẩm chất và năng lực cần có của người học sau từng giai đoạn học tập + Quản lý việc xây dựng mục tiêu đào tạo thực chất là xây dựng bản kế hoạch đào tạo theo chu trình: Chuẩn bị Lập kế hoạch Tổ chức thực hiện Chỉ đạo Kiểm tra. - Chuẩn bị: Thu thập thông tin về ngành nghề - Lập kế hoạch: Kế hoạch nhân lực, vật lực, tài lực - Tổ chức thực hiện: Quản lý tiến độ thực hiện mục tiêu - Chỉ đạo: Đôn đốc, giám sát phối hợp với các đơn vị - Kiểm tra: Kiểm tra từng phần, kiểm tra tổng thể + Quản lý mục tiêu đào tạo trong quá trình đào tạo được thực hiện theo chu trình tương tự như quản lý xây dựng mục tiêu đào tạo 1.3.2. Quản lý nội dung chương trình đào tạo nghề: Là quản lý việc xây dựng nội dung đào tạo, kế hoạch đào tạo và nội dung chương trình giảng dạy, quản lý quá trình đào tạo thực tế của giáo viên và học sinh sao cho kế hoạch, nội dung, chương trình giảng dạy được thực hiện đầy đủ và đảm bảo về thời gian, quán triệt được các yêu cầu của mục tiêu đào tạo. Khi xác định nội dung đào tạo cho một nghề cụ thể phải lựa chọn nội dung phù hợp với mục tiêu đề ra, phát huy được tài nguyên, tiềm năng mà con người đang có cần khai thác, phù hợp với phương hướng và chính sách phát triển KTXH của quốc gia, của địa phương, phản ánh và tiếp thu được tiến bộ khoa học kỹ thuật. Để thích ứng với nền kinh tế thị trường, nội dung chương trình đào tạo cần xây dựng theo hướng đào tạo CNKT có diện nghề rộng, kiến thức hiện đại, sáng tạo và linh hoạt trong công việc sản xuất và kinh doanh, dịch vụ. Quản lý nội dung, chương trình đào tạo cũng được thực hiện theo chu trình: Chuẩn bị Lập kế hoạch Tổ chức thực hiện Chỉ đạo Kiểm tra. - Chuẩn bị: Thu thập thông tin, phân tích ngành nghề, chú trọng cập nhật bổ sung kiến thức mới, quán triệt kế hoạch, nội dung, chương trình đào tạo, chuẩn bị tài liệu, chuẩn bị cơ sở vật chất trang thiết bị, chuẩn bị đội ngũ giáo viên - Lập kế hoạch: Kế hoạch về nhân lực, điều kiện, lịch trình tiến độ quy trình, kế hoạch dự giờ kiểm tra, Kế hoạch tài chính vật tư, phương tiện - Tổ chức thực hiện: Xem xét nội dung chương trình các môn học, tiến độ thực hiện, triển khai các khoá đào tạo. - Chỉ đạo: Đôn đốc giám sát phối hợp các đơn vị, giữa giáo viên với phòng ban, bộ môn, phối hợp nhà trường với đơn vị sử dụng lao động - Kiểm tra: Kiểm tra từng phần, từng bộ phận, tổng thể, kiểm tra kết quả, chất lượng, hiệu quả thực hiện chương trình đào tạo. 1.3.3. Quản lý đội ngũ giáo viên: Bao gồm công tác tuyển chọn, sử dụng, đãi ngộ, đào tạo, bồi dưỡng đối với đội ngũ giáo viên. Quản lý đội ngũ giáo viên bao gồm cả cả việc quản lý thực hiện nhiệm vụ giảng dạy của đội ngũ giáo viên, của từng giáo viên qua các nội dung: - Quản lý kế hoạch giảng dạy, việc đổi mới phương pháp giảng dạy, quản lý sinh hoạt chuyên môn, theo dõi chỉ đạo việc hoàn thiện các hồ sơ sổ sách chuyên môn nghiệp vụ. - Theo dõi đôn đốc việc thực hiện, đánh giá kết quả thực hiện các nhiệm vụ giảng dạy. - Theo dõi chỉ đạo thực hiện và đánh giá kết quả thực hiện việc học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn và sư phạm của đội ngũ giáo viên , của từng giáo viên. - Nắm được các ưu điểm, khuyết điểm, đánh giá được sự tiến bộ các mặt về chính trị tư tưởng, phẩm chất đạo đức của từng giáo viên. - Tự đánh giá của giáo viên được xem là nội dung quan trọng, tự đánh giá sẽ tạo cơ sở cần thiết để đánh giá tổng thể về hiệu quả hoạt động của giáo viên - Đánh giá giáo viên thông qua học sinh. - Kiểm tra đánh giá giáo viên thông qua đồng nghiệp và người quản lý được xem là cần thiết. - Kiểm tra đánh giá được tiến hành theo định kỳ và đột xuất thông các hình thức: Kiểm tra việc lên lớp, hội giảng, dự giờ, sinh hoạt sư phạm. 1.3.4. Quản lý học sinh học nghề: Quản lý học sinh thực chất là quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ học tập, rèn luyện của học sinh trong quá trình đào tạo, nội dung quản lý chủ yếu sau: - Quản lý quá trình học tập trên lớp và ở nhà. - Quản lý việc thực hành cơ bản ở xưởng và thực hành tại cơ sở sản xuất. - Theo dõi, tìm hiếu để nắm được những biểu hiện tích cực và tiêu cực trong việc thực hiện nhiệm vụ hoạ tập, rèn luyện của học sinh. - Theo dõi thúc đẩy, khuyến khích học sinh phát huy các yếu tố tích cực, khắc phục những yếu tố tiêu cực để phấn đấu vươn lên đạt kết quả học tập và rèn luyện. Công cụ để người quản lý kiểm tra, đánh giá theo định kỳ và đột xuất thông qua: Kiểm tra đầu vào ( Tuyển sinh ). Kiểm tra việc lên lớp, kiểm tra miệng, kiểm tra viết, thi học kỳ, thi cuối năm học và kiểm tra đầu ra ( Thi tốt nghiệp ). 1.3.5. Quản lý cơ sở vật chất thiếy bị dạy nghề: Trong hệ thống giáo dục, nhất là dạy nghề, phương tiện dạy học, máy móc thiết bị và cơ sở vật chất, nguồn tài chính là điều kiện quan trọng góp phần quyết định chất lượng dạy học. Việc đảm bảo cơ sở vật chất, tài chính phục vụ đào tạo nghề nhằm: - Đảm bảo cung cấp đầy đủ máy móc thiết bị và nguyên vật liệu cho đào tạo. - Đảm bảo đầy đủ nguồn tài chính cho việc xây dựng cơ sở vật chất và các hoạt động khác phục vụ cho quá trình dạy học. - Đảm bảo lớp học, xưởng thực hành, phòng thí nghiệm, thư viện, đáp ứng nhu cầu giảng dạy, học tập. - Cung cấp đầy đủ giáo trình tài liệu giảng dạy và học tập. 1.3.6. Quản lý công tác lập kế hoạch khóa học nghề Công tác lập kế hoạch cho hoạt động đào tạo nghề nói chung và kế hoạch khóa học là thật sự cần thiết. Kế hoạch đào tạo là văn bản pháp quy xác định danh mục và khối lượng nội dung các nghề đào tạo, các hoạt động chính của trung tâm về đào tạo được phân chia theo thời gian và các nguồn lực đáp ứng cho việc đào tạo. Lập kế hoạch là nhiệm vụ thiết yếu, nó được coi là cơ sở pháp lý để lãnh đạo nhà trường theo dõi tiến độ thực hiện các khóa học nghề. Các bước lập kế hoạch tuân thủ tuần tự sau: - Xác định các chuyên đề - Xác định trọng tâm giảng dạy - Lựa chọn các chuyên đề - Lựa chọn phương pháp - Viết tên khóa học - Xác định tiêu chí đánh giá - Viết thông tin khóa học - Xác định tài nguyên dạy học - Xác định mục tiêu - Hiệu chỉnh kế hoạch 1.3.7.Quản lý công tác tuyển sinh hợp tác đào tạo nghề: Chất lượng tuyển sinh có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng nhận thức, tiếp thu các kiến thức lý luận và kỹ năng nghề nghiệp mà nhà trường trang bị. Học sinh với tư cách vừa là một chủ thể trong quá trình đào tạo vừa là đối tượng của quá trình đào tạo sẽ có tác động tới chất lượng của quá trình đào tạo mà chủ thể và đối tượng đó cùng tham gia trong một quá trình. Trong thực tế, quá trình đào tạo còn là quá trình trong đó học sinh tự học hỏi lẫn nhau thông qua các phương pháp làm việc theo nhóm, thảo luận, trao đổi … nên chất lượng tuyển vào và tính đống nhất về trình độ của học sinh cũng được quan tâm. Công tác quản lý tuyển sinh bao gồm: - Tổng số học sinh tuyển mới cho khóa học phân theo ngành và hệ đào tạo. - Cách thức tuyển sinh của nhà trường và các tiêu chuẩn chấp nhận. - Điểm trung bình các môn học ở phổ thông và xếp hạng học tập. - Điểm trung bình các môn thi tốt nghiệp phổ thông. - Kết quả rèn luyện đạo đức. - Động cơ học tập. - Năng khiếu cá nhân. - Sức khỏe thể chất và tinh thần của học sinh khi nhập học. 1.3.8. Quản lý thông tin trong đào tạo nghề: Có thể nói chức năng thông tin là phương tiện để thống nhất hoạt động của hệ thống giáo dục và hệ thống quản lý giáo dục. Nó là phương tiện cung cấp đầu vào cho hệ thống quản lý, đồng thời cũng là phương tiện để thay đổi cách cư xử và để tác động lên sự thay đổi. Do đó có thể định nghĩa thông tin là bộ phận tri thức được sử dụng để định hướng, để tác động tích cực, để điều khiển, nghĩa là nhằm duy trì tính đặc thù về chất, hoàn thiện và phát triển hệ thống. Thông tin là quá trình hai chiều, trong đó mỗi bộ phận, mỗi người vừa là người nhận thông tin vừa là người phát tin. Trong tổ chức thông tin là hệ thống đan chéo nhau: thông tin giữa bộ phận cùng cấp và giữa bộ phận cấp trên với bộ phận cấp dưới. Đối với giáo dục thông tin nhằm những mục đích cụ thể sau: - Xây dựng và phổ biến các mục tiêu phát triển giáo dục cũng như các mục tiêu quản lý giáo dục. - Lập các kế hoạch giáo dục, kế hoạch quản lý để đạt được các mục tiêu giáo dục vầ mục tiêu quản lý giáo dục. - Tổ chức nguồn nhân lực và các nguồn lực khác theo cách có hiệu quả nhất nhằm đạt mục tiêu giáo dục và mục tiêu quản lý giáo dục. - Lựa chọn, phát triển và đánh giá các thành viên của tổ chức - Lãnh đạo, hướng dẫn, điều khiển, thúc đẩy và tạo môi trường thuận lợi cho việc phát huy tính chủ động, sáng tạo của những tổ chức hoặc cá nhân trong và ngoài ngành giáo dục tham gia xây dựng giáo dục.