Skip to content Skip to navigation

Connexions

You are here: Home » Content » Cau truc chuong trinh GDTC cho SVDHDN nhom suc khoe yeu

Navigation

Lenses

What is a lens?

Definition of a lens

Lenses

A lens is a custom view of the content in the repository. You can think of it as a fancy kind of list that will let you see content through the eyes of organizations and people you trust.

What is in a lens?

Lens makers point to materials (modules and collections), creating a guide that includes their own comments and descriptive tags about the content.

Who can create a lens?

Any individual member, a community, or a respected organization.

What are tags? tag icon

Tags are descriptors added by lens makers to help label content, attaching a vocabulary that is meaningful in the context of the lens.

This content is ...

Affiliated with (What does "Affiliated with" mean?)

This content is either by members of the organizations listed or about topics related to the organizations listed. Click each link to see a list of all content affiliated with the organization.
  • VOCW

    This module is included inLens: Vietnam OpenCourseWare's Lens
    By: Vietnam OpenCourseWare

    Click the "VOCW" link to see all content affiliated with them.

Recently Viewed

This feature requires Javascript to be enabled.
 

Cau truc chuong trinh GDTC cho SVDHDN nhom suc khoe yeu

Module by: Pham Nghi. E-mail the author

Summary: Căn cứ vào các đặc điểm của nhóm yếu, chúng tôi đã nghiên cứu và lựa chọn được các nội dung: điền kinh, thể dục, trò chơi, cờ vua, cầu lông để xây dựng chương trình GDTC cho phù hợp với nhóm này. Để nâng cao sức khoẻ, phát triển tố chất thể lực, phòng chống bệnh tật, thì GDTC không thể thiếu được 2 nội dung cơ bản đó là điền kinh và thể dục. Hai nội dung này là sự tổng hợp những phương pháp và biện pháp chuyên môn về GDTC, nó đảm bảo cho con người phát triển và hoàn thiện về mặt thể chất. Ngoài hai nội dung trên, chúng tôi đưa nội dung trò chơi và cờ vua vào để tạo không khí vui tươi trong học tập, phát triển trí lực làm cho bộ óc trở nên khoẻ mạnh và có phản xạ nhanh, tạo khả năng giải quyết khéo léo những công việc phức tạp, suy nghĩ ngày càng sâu sắc và sáng tạo. Mặt khác, nội dung của trò chơi vận động cũng mang ý nghĩa phát triển các tố chất thể lực, giúp cho việc hoàn thành các nội dung khác như: điền kinh, thể dục… một cách thuận lợi, nhanh chóng mà người thực hiện cảm thấy thoải mái. Điều này rất có ý nghĩa đối với nhóm yếu. Cùng với các nội dung: điền kinh, thể dục, cờ vua, trò chơi thì việc chúng tôi đưa môn thể thao cầu lông (hoặc bóng bàn ) vào chương trình là rất phù hợp với sức khoẻ và tầm vóc của nhóm này. Môn cầu lông là một trong những môn thể thao phổ biến ở các trường và xã hội, được hầu hết sinh viên ưa thích, nó vừa nhẹ nhàng, có tính hấp dẫn cao trong thi đấu, nên người tập dễ dàng vượt qua khó khăn để nâng cao thể lực. Tập môn cầu lông sân bãi dụng cụ tương đối đơn giản, trong trung tâm hầu hết các giáo viên đều có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn về giảng dạy môn này. Cầu lông là một trong 6 môn thể thao tự chọn, được đưa vào giảng dạy ở giai đoạn II theo quy định của Bộ giáo dục và Đào tạo. Để

3.2.1. Cơ sở lựa chọn môn học.

GDTC ở tất cả các trường thuộc Đại học Đà Nẵng, đã thống nhất giảng dạy theo phân nhóm sức khoẻ sinh viên. Việc tiến hành giảng dạy ở các nhóm như nhóm nâng cao, nhóm cơ bản ( nhóm rèn luyện thân thể ), đều giảng dạy theo chương trình đã được thống nhất, còn nhóm đặc biệt chưa có chương trình. Việc kiểm tra đánh giá môn học chưa thể hiện hết tính khoa học, còn mang tính chủ quan của giáo viên như cho miễn các nội dung, hoặc giảm chỉ tiêu kiểm tra cho sinh viên… Trong quan điểm đáng giá môn học, còn quá cứng nhắc về kỹ thuật hoặc đưa ra chỉ tiêu quá thấp, ví dụ như trong môn điền kinh: ở nội dung chạy, yêu cầu miễn sao chạy hết cự ly, không tính thành tích…

Như vậy, theo chúng tôi đưa ra chỉ tiêu đánh giá chung khi kiểm tra đánh giá là thiếu thực tế, không phù hợp với khả năng sức khoẻ và thể lực của nhóm sinh viên sức khoẻ yếu. Nhưng khi kiểm tra đánh giá quá thấp làm cho sinh viên sức khoẻ yếu ỷ lại vào sự giúp đỡ của giáo viên, không nỗ lực ý chí... dẫn đến GDTC cho nhóm sinh viên sức khoẻ yếu không đạt được mục đích yêu cầu đào tạo. Do vậy, cần phải có yêu cầu cụ thể cho nhóm này.

Việc học tập và giảng dạy môn GDTC là quy định bắt buộc đối với các cấp học . Bộ Giáo dục và Đào tạo đã quy định tất cả các sinh viên đều phải học và thi kiểm tra từng học phần và thi kết thúc môn GDTC, phải kiểm tra tiêu chuẩn rèn luyện thân thể theo lứa tuổi. Chính vì vậy, việc cho miễn hoặc giảm khi kiểm tra và thi môn GDTC, là chưa đúng với sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Theo chúng tôi, tất cả sinh viên sức khoẻ yếu đều phải dự thi, kiểm tra môn GDTC. Song, vấn đề đặt ra là sự lựa chọn nội dung, hình thức sao cho phù hợp với đặc điểm của nhóm này, thì cần phải được nghiên cứu cụ thể đảm bảo tính khoa học, khách quan và tính khả thi cao.

Căn cứ vào điều kiện cơ sở vật chất của Trường Đại học Đà Nẵng, đội ngũ cán bộ giảng dạy và đặc điểm của nhóm yếu, chúng tôi xin đưa ra cấu trúc chương trình GDTC cho nhóm sinh viên sức khoẻ yếu. Chương trình có những đặc điểm sau:

- Chương trình được xây dựng dựa trên chương trình GDTC do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành cho các trường đại học và cao đẳng trên toàn quốc.

- Phần lý luận đưa vào chương trình là 18 tiết: Mục đích nhằm nâng cao nhận thức, xây dựng động cơ đúng đắn, tạo hứng thú , tính tự giác tích cực của sinh viên theo học cả chương trình.

- Giảng dạy liên tục và có sự lặp đi lặp lại các nội dung có kiểm tra đánh giá từng nội dung, từng kỳ (không miễn nội dung nào).

- Đa dạng hoá loại hình bài tập, phong phú về nội dung, phương pháp, chú trọng phát triển thể lực, thay đổi quan điểm cách đánh giá môn GDTC đối với nhóm sinh viên sức khoẻ yếu.

- Các buổi học được bố trí, sao cho khoảng cách giữa các buổi tập đảm bảo nguyên tắc hệ thống, kế thừa và phát triển. Để đạt được mục đích, yêu cầu đặt ra cho nhóm yếu, việc giải quyết các nhiệm vụ không chỉ tiến hành ở giờ chính khóa, đối với sinh viên các giờ học ngoại khoá, sinh hoạt câu lạc bộ, sự bố trí khoa học giữa học tập vui chơi giải trí, chế độ sinh hoạt, điều kiện dinh dưỡng. Những yếu tố trên hỗ trợ tích cực giúp cho sinh viên hoàn thành nhiệm vụ - yêu cầu môn học GDTC.

- Sau khi hoàn thành 5 học phần, thì tiếp tục tiến hành kiểm tra các chỉ tiêu thể lực. Các chỉ tiêu thể lực kiểm tra lần sau phải cao hơn ban đầu mới đạt yêu cầu.

Căn cứ vào các đặc điểm của nhóm yếu, chúng tôi đã nghiên cứu và lựa chọn được các nội dung: điền kinh, thể dục, trò chơi, cờ vua, cầu lông để xây dựng chương trình GDTC cho phù hợp với nhóm này. Để nâng cao sức khoẻ, phát triển tố chất thể lực, phòng chống bệnh tật, thì GDTC không thể thiếu được 2 nội dung cơ bản đó là điền kinh và thể dục. Hai nội dung này là sự tổng hợp những phương pháp và biện pháp chuyên môn về GDTC, nó đảm bảo cho con người phát triển và hoàn thiện về mặt thể chất. Ngoài hai nội dung trên, chúng tôi đưa nội dung trò chơi và cờ vua vào để tạo không khí vui tươi trong học tập, phát triển trí lực làm cho bộ óc trở nên khoẻ mạnh và có phản xạ nhanh, tạo khả năng giải quyết khéo léo những công việc phức tạp, suy nghĩ ngày càng sâu sắc và sáng tạo. Mặt khác, nội dung của trò chơi vận động cũng mang ý nghĩa phát triển các tố chất thể lực, giúp cho việc hoàn thành các nội dung khác như: điền kinh, thể dục… một cách thuận lợi, nhanh chóng mà người thực hiện cảm thấy thoải mái. Điều này rất có ý nghĩa đối với nhóm yếu. Cùng với các nội dung: điền kinh, thể dục, cờ vua, trò chơi thì việc chúng tôi đưa môn thể thao cầu lông (hoặc bóng bàn ) vào chương trình là rất phù hợp với sức khoẻ và tầm vóc của nhóm này. Môn cầu lông là một trong những môn thể thao phổ biến ở các trường và xã hội, được hầu hết sinh viên ưa thích, nó vừa nhẹ nhàng, có tính hấp dẫn cao trong thi đấu, nên người tập dễ dàng vượt qua khó khăn để nâng cao thể lực. Tập môn cầu lông sân bãi dụng cụ tương đối đơn giản, trong trung tâm hầu hết các giáo viên đều có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn về giảng dạy môn này. Cầu lông là một trong 6 môn thể thao tự chọn, được đưa vào giảng dạy ở giai đoạn II theo quy định của Bộ giáo dục và Đào tạo. Để khách quan, chúng tôi phỏng vấn giáo viên TDTT và sinh viên nhóm sức khoẻ yếu về việc lựa chọn môn thể thao tự chọn trong khuôn khổ các môn thể thao do Bộ quy định. Kết quả phỏng vấn cho thấy: 85% chọn môn cầu lông, chỉ có 6,25% và 8,75 chọn bóng bàn và bóng chuyền. Điều này chứng tỏ việc đưa môn thể thao cầu lông vào giảng dạy của chúng tôi là hợp lý. Đối với nhóm này ngoài việc nâng cao sức khoẻ thì còn phải tạo cho họ khắc phục được phần nào sai lệch về chức năng và mất cân đối trong sự phát triển của cơ thể, đẩy nhanh quá trình hồi phục sức khoẻ sau khi khỏi bệnh chúng tôi đưa môn thể dục chữa bệnh vào giảng dạy để chương trình đạt hiệu quả cao hơn.

Content actions

Download module as:

Add module to:

My Favorites (?)

'My Favorites' is a special kind of lens which you can use to bookmark modules and collections. 'My Favorites' can only be seen by you, and collections saved in 'My Favorites' can remember the last module you were on. You need an account to use 'My Favorites'.

| A lens I own (?)

Definition of a lens

Lenses

A lens is a custom view of the content in the repository. You can think of it as a fancy kind of list that will let you see content through the eyes of organizations and people you trust.

What is in a lens?

Lens makers point to materials (modules and collections), creating a guide that includes their own comments and descriptive tags about the content.

Who can create a lens?

Any individual member, a community, or a respected organization.

What are tags? tag icon

Tags are descriptors added by lens makers to help label content, attaching a vocabulary that is meaningful in the context of the lens.

| External bookmarks