Quy trình áp dụng phương pháp gồm các bước cơ bản sau: 1- Sinh viên nghiên cứu tài liệu thứ cấp tại nhà, nắm bắt các vấn đề chung của vùng sẽ đi thực địa, sau đó đi thực địa theo tuyến dưới sự hướng dẫn của giáo viên, mỗi cá nhân đều phải nhìn, hỏi, nghe, ghi mọi điều cần thiết theo yêu cầu của chương trình và theo nhu cầu cá nhân; 2- Làm việc toàn nhóm xây dựng một báo cáo chung, bắt đầu từ việc nêu ra các phát hiện trong quá trình thực địa, lựa chọn một vấn đề phù hợp cho toàn nhóm làm báo cáo, xây dựng báo cáo hoàn chỉnh dưới dạng bảng treo.
Phương pháp thông thường để nêu ra các phát hiện là hỏi và trả lời; Tuy nhiên cách này có nhược điểm là chỉ khêu gợi và cho phép một số sinh viên tích cực và nhanh miệng tham gia, những người thụ động hoặc lười biếng không dễ bị cuốn vào quá trình làm việc chung. Và do không có nhu cầu vận dụng ngay lập tức tri thức thu được trong quá trình thực địa, cơ chế kiểm soát áp đặt thực tế không đạt hiệu quả, sẽ có những sinh viên hoàn toàn không làm việc trong khi đi theo tuyến thực địa, ghi chép cẩu thả, chiếu lệ, thậm chí đến chính họ sau đó cũng không hiểu nổi những điều mình đã ghi chép được, không sử dụng được nhật ký cá nhân.
Theo phương pháp của chúng tôi, mỗi sinh viên được phát hai thẻ màu, ví dụ một thẻ xanh và một thẻ vàng, một bút viết bảng đen; Mỗi sinh viên có nhiệm vụ suy nghĩ, cân nhắc, sau đó ghi vấn đề tài nguyên môi trường mà họ đánh giá là cần nghiên cứu giải quyết nhất vào thẻ, trong đó ưu tiên một viết vào thẻ xanh, ưu tiên hai viết vào thẻ vàng; Trong mỗi thẻ không được viết quá 10 từ bằng chữ in to và phải viết kín thẻ. Nếu sinh viên không có những kiến thức đã thu thập được trên tuyến thực địa, họ sẽ không hoàn thành nhiệm vụ được giao; Nếu sinh viên đưa ra những vấn đề chiếu lệ, họ sẽ bị chính các cá nhân khác trong nhóm phê phán. Do đó các sinh viên bắt buộc phải hoạt động tích cực ngay từ khi đi thực địa theo tuyến, vì thông tin và nhận thức của họ sau đó sẽ được kiểm soát qua quá trình trực quan hoá và thị trường thông tin. Sau 15 - 30 phút, thu lại các thẻ, phân loại thẻ theo vấn đề, ghim các thẻ có cùng hoặc gần nội dung vào một chỗ bằng cách giơ từng thẻ lên và hỏi sinh viên xem nên gắn nó vào đâu, một chỗ mới hay nhóm cùng những vấn đề đã có sẵn trên bảng. Đôi khi chủ nhân của một thẻ nào đó có thể phải giải thích thêm, phải tự quyết định xem thẻ của họ nên đặt vào đâu, thậm chí phải đánh giá lại mức độ đúng đắn của vấn đề mình đưa ra. Hạn chế về thời gian lựa chọn vấn đề và viết thẻ là yếu tố cần khiến sinh viên không thể trao đổi với nhau, mượn nhật ký của nhau, mà phải làm việc độc lập trên cơ sở những thông tin mà mình đã nắm bắt, ghi chép được. Việc ghim thẻ có thể tạo nên một số lộn xộn, một số tranh luận, nhưng nó là cần thiết, giúp không khí buổi làm việc sôi nổi hơn, cuốn hút mọi thành viên trong nhóm vào quá trình làm việc chung dễ dàng hơn. Số thẻ quá nhiều sẽ gây mất thời gian khi phân loại, vì thế phải giới hạn số thành viên của nhóm trong khoảng 15 - 20 sinh viên và phát cho mỗi người không quá 3 thẻ. Nếu các vấn đề bị phân loại quá vụn vặt sẽ gây khó khăn cho các bước tiếp theo, nên giáo viên hướng dẫn sẽ phải can thiệp khi cần, ví dụ như hỏi xem vấn đề này có nên coi là một loại vấn đề mới hay không, hay nên ghép chung vào vấn đề nào đó đã có trên bảng ghim... Sau khi phân loại xong, sẽ khoanh các thẻ cùng vấn đề vào một chỗ (gọi là một hoa), dùng một thẻ khác kích cỡ hoặc màu sắc làm tiêu đề chung cho toàn hoa. Trực quan có thể thấy ngay có bao nhiêu vấn đề tài nguyên và môi trường đã được nhóm phát hiện ra, vấn đề nào được nhiều người quan tâm hơn, theo mức ưu tiên một hay hai... Từ đó nhóm sẽ cùng quyết định xem sẽ chọn vấn đề nào làm báo cáo chung.
Mỗi báo cáo chung chỉ được phép trình bày trên không quá 4 tờ giấy khổ AO, dưới dạng biểu bảng và sơ đồ. Chỉ được phép trình bày lên biểu bảng các thông tin thu thập được trong quá trình thực địa, không được phép trình bày các vấn đề lý thuyết, không được phép sao chép nguyên si tài liệu tham khảo. Nhóm sẽ quyết định sẽ chia nội dung vấn đề đã lựa chọn ra thành mấy biểu bảng, sơ đồ và thành lập các tiểu nhóm, mỗi tiểu nhóm có trách nhiệm xây dựng một biểu bảng. Nếu nhận thấy còn thiếu thông tin thì nhóm sẽ cử người đi điều tra thêm. Bước tiếp theo toàn nhóm họp chung dưới sự chủ trì của giáo viên hướng dẫn, đánh giá kết quả của từng tiểu nhóm, góp ý sửa chữa, bổ sung, thiết kế lại cho phù hợp với báo cáo tổng thể; Cuối cùng, những người có "hoa tay" sẽ chịu trách nhiệm thể hiện báo cáo lên giấy AO..
Quá trình làm việc như trên giúp huy động tổng lực, buộc mọi sinh viên phải động não làm việc. Giáo viên là người hướng dẫn thực hiện phương pháp, định hướng quá trình làm việc, giải thích các vướng mắc về chuyên môn khi cần. Kết quả nghiên cứu là một công trình tập thể thực sự. Qua đó, sinh viên không chỉ học được những kiến thức chuyên môn thuần tuý, mà còn học được cách độc lập làm việc và làm việc cùng nhau để đi đến kết quả cuối cùng. Trong quá trình triển khai phương pháp này tại thực địa, rất nhiều sinh viên cho biết họ lần đầu tiên được dạy cách làm việc tập thể đồng lòng và họ không thể ngờ rằng làm việc nhóm lại có thể khó khăn đến thế.