Skip to content Skip to navigation

Connexions

You are here: Home » Content » Trực quan hoá và thị trường thông tin áp dụng trong giảng dạy môi trường

Navigation

Lenses

What is a lens?

Definition of a lens

Lenses

A lens is a custom view of the content in the repository. You can think of it as a fancy kind of list that will let you see content through the eyes of organizations and people you trust.

What is in a lens?

Lens makers point to materials (modules and collections), creating a guide that includes their own comments and descriptive tags about the content.

Who can create a lens?

Any individual member, a community, or a respected organization.

What are tags? tag icon

Tags are descriptors added by lens makers to help label content, attaching a vocabulary that is meaningful in the context of the lens.

This content is ...

Affiliated with (What does "Affiliated with" mean?)

This content is either by members of the organizations listed or about topics related to the organizations listed. Click each link to see a list of all content affiliated with the organization.
  • VOCW

    This module is included inLens: Vietnam OpenCourseWare's Lens
    By: Vietnam OpenCourseWare

    Click the "VOCW" link to see all content affiliated with them.

Recently Viewed

This feature requires Javascript to be enabled.
 

Trực quan hoá và thị trường thông tin áp dụng trong giảng dạy môi trường

Module by: Nguyễn Thị Phương Loan. E-mail the author

Summary: Trực quan hoá và thị trường thông tin áp dụng trong giảng dạy môi trường

Đặt vấn đề

Mô hình giảng dạy truyền thống, trong đó người dạy là trung tâm, sử dụng công nghệ là bảng, tivi, radiô..., người học đóng vai trò thụ động (mô hình chiều dọc) đã bộc lộ những bất cập nhất định, bởi khi giáo viên nói chưa phải học sinh ngồi trong lớp đã nghe, nghe chưa có nghĩa là họ đã hiểu. Thống kê cho thấy người ta thường chỉ nhớ được 20% cái họ nghe, 30% cái họ thấy, 50% cái họ thấy và nghe, 90% cái họ nói và làm.

Ngày nay đã xuất hiện nhiều mô hình giáo dục mới, như mô hình thông tin, trong đó bước đổi mới căn bản là lấy người học làm trung tâm, đóng vai trò chủ động, người dạy trở thành người hướng đạo, thúc đẩy, hỗ trợ, hoặc mô hình tri thức, trong đó lấy nhóm người học là trung tâm, có vai trò thích nghi, (mô hình chiều ngang). Trong sự phát triển này, nhóm sẽ có tầm quan trọng như là một nơi để tư vấn, thảo luânh và cộng tác. Bằng cơ chế này, giáo dục được tiếp nhận bởi cá nhân trong mối tương quan với nhóm, với đòi hỏi là người sinh viên phải có tính năng động, thích nghi [ 1].

Những cải tiến phương pháp giảng dạy mà chúng tôi thực hiện trong chương trình nghiên cứu này được xây dựng trên cơ sở lý thuyết của phương pháp "Trực quan hoá trong các chương trình huấn luyện có sự tham gia của cộng đồng" (Visualisation in Participatory Programmes - VIPP), do Phòng Truyền thông và Thông tin của chương trình UNICEF Bang ladesh biên soạn với sự tham gia của Phòng Truyền thông và Thông tin, Phòng Huấn luyện và Phát triển nhân sự của UNICEF [2]. Những cải tiến này đã được triển khai thử nghiệm liên tục nhiều năm liền, trong các kỳ thực địa về Tài nguyên Môi trường tại Đồ Sơn, Hải Phòng, cho đối tượng là sinh viên ngành Khoa học Môi trường năm thứ 3. Quá trình áp dụng được tập thể bộ môn Tài nguyên và Sinh thái môi trường, Khoa Môi trường, gồm nhiều giáo sư và cán bộ giảng dạy có thâm niên cao, như GS.TS. Nguyễn Cẩn, PGS.TS. Trần Cẩm Vân, PGS.TS. Nguyễn Đình Hoè, PGS.TS. Hoàng Xuân Cơ... ủng hộ và cùng thực hiện. Mục tiêu của chúng tôi khi triển khai cải tiến giảng dạy là làm sao để sinh viên không chỉ được thấy mà phải cố nhìn thấy, không chỉ được nghe mà phải cố nghe thấy, không chỉ nghe và thấy mà phải cố hiểu, sau đó đánh giá và sử dụng được các tri thức mới tiếp nhận.

Nội dung phương pháp và ưu nhược điểm của nó

Trực quan hoá và làm việc nhóm

Quy trình áp dụng phương pháp gồm các bước cơ bản sau: 1- Sinh viên nghiên cứu tài liệu thứ cấp tại nhà, nắm bắt các vấn đề chung của vùng sẽ đi thực địa, sau đó đi thực địa theo tuyến dưới sự hướng dẫn của giáo viên, mỗi cá nhân đều phải nhìn, hỏi, nghe, ghi mọi điều cần thiết theo yêu cầu của chương trình và theo nhu cầu cá nhân; 2- Làm việc toàn nhóm xây dựng một báo cáo chung, bắt đầu từ việc nêu ra các phát hiện trong quá trình thực địa, lựa chọn một vấn đề phù hợp cho toàn nhóm làm báo cáo, xây dựng báo cáo hoàn chỉnh dưới dạng bảng treo.

Phương pháp thông thường để nêu ra các phát hiện là hỏi và trả lời; Tuy nhiên cách này có nhược điểm là chỉ khêu gợi và cho phép một số sinh viên tích cực và nhanh miệng tham gia, những người thụ động hoặc lười biếng không dễ bị cuốn vào quá trình làm việc chung. Và do không có nhu cầu vận dụng ngay lập tức tri thức thu được trong quá trình thực địa, cơ chế kiểm soát áp đặt thực tế không đạt hiệu quả, sẽ có những sinh viên hoàn toàn không làm việc trong khi đi theo tuyến thực địa, ghi chép cẩu thả, chiếu lệ, thậm chí đến chính họ sau đó cũng không hiểu nổi những điều mình đã ghi chép được, không sử dụng được nhật ký cá nhân.

Theo phương pháp của chúng tôi, mỗi sinh viên được phát hai thẻ màu, ví dụ một thẻ xanh và một thẻ vàng, một bút viết bảng đen; Mỗi sinh viên có nhiệm vụ suy nghĩ, cân nhắc, sau đó ghi vấn đề tài nguyên môi trường mà họ đánh giá là cần nghiên cứu giải quyết nhất vào thẻ, trong đó ưu tiên một viết vào thẻ xanh, ưu tiên hai viết vào thẻ vàng; Trong mỗi thẻ không được viết quá 10 từ bằng chữ in to và phải viết kín thẻ. Nếu sinh viên không có những kiến thức đã thu thập được trên tuyến thực địa, họ sẽ không hoàn thành nhiệm vụ được giao; Nếu sinh viên đưa ra những vấn đề chiếu lệ, họ sẽ bị chính các cá nhân khác trong nhóm phê phán. Do đó các sinh viên bắt buộc phải hoạt động tích cực ngay từ khi đi thực địa theo tuyến, vì thông tin và nhận thức của họ sau đó sẽ được kiểm soát qua quá trình trực quan hoá và thị trường thông tin. Sau 15 - 30 phút, thu lại các thẻ, phân loại thẻ theo vấn đề, ghim các thẻ có cùng hoặc gần nội dung vào một chỗ bằng cách giơ từng thẻ lên và hỏi sinh viên xem nên gắn nó vào đâu, một chỗ mới hay nhóm cùng những vấn đề đã có sẵn trên bảng. Đôi khi chủ nhân của một thẻ nào đó có thể phải giải thích thêm, phải tự quyết định xem thẻ của họ nên đặt vào đâu, thậm chí phải đánh giá lại mức độ đúng đắn của vấn đề mình đưa ra. Hạn chế về thời gian lựa chọn vấn đề và viết thẻ là yếu tố cần khiến sinh viên không thể trao đổi với nhau, mượn nhật ký của nhau, mà phải làm việc độc lập trên cơ sở những thông tin mà mình đã nắm bắt, ghi chép được. Việc ghim thẻ có thể tạo nên một số lộn xộn, một số tranh luận, nhưng nó là cần thiết, giúp không khí buổi làm việc sôi nổi hơn, cuốn hút mọi thành viên trong nhóm vào quá trình làm việc chung dễ dàng hơn. Số thẻ quá nhiều sẽ gây mất thời gian khi phân loại, vì thế phải giới hạn số thành viên của nhóm trong khoảng 15 - 20 sinh viên và phát cho mỗi người không quá 3 thẻ. Nếu các vấn đề bị phân loại quá vụn vặt sẽ gây khó khăn cho các bước tiếp theo, nên giáo viên hướng dẫn sẽ phải can thiệp khi cần, ví dụ như hỏi xem vấn đề này có nên coi là một loại vấn đề mới hay không, hay nên ghép chung vào vấn đề nào đó đã có trên bảng ghim... Sau khi phân loại xong, sẽ khoanh các thẻ cùng vấn đề vào một chỗ (gọi là một hoa), dùng một thẻ khác kích cỡ hoặc màu sắc làm tiêu đề chung cho toàn hoa. Trực quan có thể thấy ngay có bao nhiêu vấn đề tài nguyên và môi trường đã được nhóm phát hiện ra, vấn đề nào được nhiều người quan tâm hơn, theo mức ưu tiên một hay hai... Từ đó nhóm sẽ cùng quyết định xem sẽ chọn vấn đề nào làm báo cáo chung.

Mỗi báo cáo chung chỉ được phép trình bày trên không quá 4 tờ giấy khổ AO, dưới dạng biểu bảng và sơ đồ. Chỉ được phép trình bày lên biểu bảng các thông tin thu thập được trong quá trình thực địa, không được phép trình bày các vấn đề lý thuyết, không được phép sao chép nguyên si tài liệu tham khảo. Nhóm sẽ quyết định sẽ chia nội dung vấn đề đã lựa chọn ra thành mấy biểu bảng, sơ đồ và thành lập các tiểu nhóm, mỗi tiểu nhóm có trách nhiệm xây dựng một biểu bảng. Nếu nhận thấy còn thiếu thông tin thì nhóm sẽ cử người đi điều tra thêm. Bước tiếp theo toàn nhóm họp chung dưới sự chủ trì của giáo viên hướng dẫn, đánh giá kết quả của từng tiểu nhóm, góp ý sửa chữa, bổ sung, thiết kế lại cho phù hợp với báo cáo tổng thể; Cuối cùng, những người có "hoa tay" sẽ chịu trách nhiệm thể hiện báo cáo lên giấy AO..

Quá trình làm việc như trên giúp huy động tổng lực, buộc mọi sinh viên phải động não làm việc. Giáo viên là người hướng dẫn thực hiện phương pháp, định hướng quá trình làm việc, giải thích các vướng mắc về chuyên môn khi cần. Kết quả nghiên cứu là một công trình tập thể thực sự. Qua đó, sinh viên không chỉ học được những kiến thức chuyên môn thuần tuý, mà còn học được cách độc lập làm việc và làm việc cùng nhau để đi đến kết quả cuối cùng. Trong quá trình triển khai phương pháp này tại thực địa, rất nhiều sinh viên cho biết họ lần đầu tiên được dạy cách làm việc tập thể đồng lòng và họ không thể ngờ rằng làm việc nhóm lại có thể khó khăn đến thế.

Thị trường thông tin, hay còn gọi là "Hội chợ thông tin"

Trong quá trình thực địa, do sinh viên đông, do chuyên môn sâu của các cán bộ hướng dẫn phân hoá, mỗi nhóm đi theo sự hướng dẫn của một giáo viên sẽ được tiếp cận với những tri thức và phương pháp giải quyết vấn đề riêng, có thể không giống các nhóm còn lại. Do những hạn chế về tài chính, chúng tôi không thể kéo dài đợt thực tập để mỗi nhóm lần lượt đi với tất cả các thầy trong đoàn. Mặt khác, một trong những phương pháp thực địa được áp dụng là phỏng vấn không chính thức, do vậy có thể có những sinh viên thu được những thông tin rất có giá trị nào đó, cần được phổ biến chung cho toàn đoàn.

Phương pháp truyền thống để truyền đạt thông tin là báo cáo, trong đó một người trình bày, trả lời, những người khác nghe, hỏi... đây là một phương pháp có những mặt tích cực riêng của nó, tuy nhiên, khi áp dụng cho một tập thể sinh viên quá đông sẽ dẫn tới một vài khó khăn như: cần một địa bàn phù hợp, tốt nhất là phòng họp có bàn ghế nghiêm chỉnh, có loa... Trong khi báo cáo viên thuyết trình, người nghe ngồi lâu một chỗ dễ chán, dẫn đến những người không quan tâm sẽ nói chuyện, không nghe... gây khó khăn cho báo cáo viên và người có nhu cầu

Giải pháp của chúng tôi là "Thị trường thông tin", được tổ chức theo cách sau: Các nhóm treo báo cáo của mình vào chỗ quy định, cử người thuyết trình và trả lời câu hỏi. Trong khu vực đồng thời sẽ có nhiều điểm cung cấp thông tin, sinh viên có thể và chỉ cần đến với vấn đề mình quan tâm nhất. Thị trường thông tin không chỉ là nơi cung cấp đầy đủ nhất những thông tin mà mỗi nhóm đã có được; Thị trường thông tin là nơi báo cáo nhóm được xem xét, đánh giá một cách chặt chẽ bởi chính các nhóm khác. Việc tìm ra những khiếm khuyết của các báo cáo khác và bảo vệ chính kiến của nhóm mình một cách khoa học là động lực thúc đẩy mọi sinh viên hoạt động tích cực; Do đó tất cả các Thị trường thông tin mà chúng tôi đã tổ chức đều rất sôi nổi, nhiều cuộc tranh cãi khoa học đã nổ ra, sinh viên thực sự là những người đánh giá rất khắt khe, nghiêm khắc công trình của bạn mình; Mặt khác, dường như sinh viên có thói quen dễ chấp nhận sự đánh giá của giáo viên, nhưng lại hiếu thắng, khó dễ dãi với những nhận định của bạn bè, do vậy họ thường cố gắng hết sức để bảo vệ quan điểm của mình, đây là điều bình thường ít xảy ra.

Đánh giá của sinh viên về Thị trường thông tin

Kết quả điều tra theo phiếu

Chúng tôi phát phiếu điều tra đánh giá về phương pháp Thị trường thông tin cho các sinh viên năm thứ 4 ngành Môi trường năm học 2001 - 2002 (K43); Lý do là các sinh viên này đã học xong toàn bộ chương trình cử nhân môi trường, tham gia tất cả các đợt thực tập, hội nghị khoa học... trong thời gian học, và hiện tại các em vẫn đang có mặt ở trường.

Chúng tôi thu được 39 phiếu điều tra có câu trả lời. Kết quả như sau:

  • 100% sinh viên lần đầu tiên được biết và thực hiện phương pháp tại thực tập Đồ Sơn
  • 88% đánh giá phương pháp thuộc loại tốt, còn lại cho rằng phương pháp là trung bình, không có ai đánh giá phương pháp là không tốt
  • 19% đánh giá phương pháp dễ thực hiện
  • 38% đánh giá phương pháp cho phép trao đổi thông tin nhanh
  • 64% đánh giá phương pháp kích thích sinh viên nhu cầu đối thoại và học hỏi
  • 92% đánh giá phương pháp cho phép nhiều người cùng trao đổi, đánh giá thông tin
  • 79% cho rằng sau thực tập Đồ Sơn không lần nào được sử dụng phương pháp này nữa

Trả lời câu hỏi "Em có nhận xét gì khác về phương pháp "Thị trường thông tin"? đã có những câu trả lời rất thú vị, xin trích nguyên văn một số câu trả lời:

  • Đây là phương pháp rất tốt, đòi hỏi tất cả các thành viên cùng phải động não và giải quyết các vấn đề nhanh chóng, thích hợp cho làm việc nhóm.
  • Đây là phương pháp ít tốn kém và hiệu quả cao
  • Phương pháp khuyến khích, cải thiện kỹ năng làm việc nhóm, vốn là một điểm yếu của sinh viên Việt Nam
  • Đây là một phương pháp mới, nhưng theo em đây là một phương pháp hay vì nó cho những người tham gia một cơ chế trao đổi thông tin dễ dàng, tận dụng được tối đa khả năng của các thành viên trong nhóm.
  • Phương pháp này rất phù hợp với sinh viên thực tập; Tuy nhiên nếu thực hiện không tốt dễ gây nên cãi vã, mất đoàn kết.
  • Phương pháp này rất phù hợp để khuyến khích sinh viên tham gia thảo luận, nên được áp dụngthường xuyên hơn, rất thích hợp trong dạy các môn xã hội, dân số, phát triển bền vững. Hướng dẫn phương pháp lần đầu rất quan trọng, nếu được chuẩn bị tốt thì sẽ làm học sinh hào hứng tham gia.
  • Mục đích của việc tiến hành phương pháp là tốt, nhưng việc tiến hành còn nhiều vấn đề chưa được, ví dụ người hỏi hỏi quá tuỳ tiện, người trả lời đôi khi năng lực không đủ để thoả mãn.

Thảo luận về kết quả điều tra

Nhận xét chung của sinh viên về phương pháp phù hợp với những phân tích trong mục 2 của báo cáo này. Trong khoảng thời gian thực tập 2 tuần theo quy định của chương trình, chúng tôi vừa phải hướng dẫn thực tập chuyên môn, vừa cố gắng hướng dẫn các em một phương pháp nghiên cứu mới, nên có thể gặp những khó khăn nhất định như: Không thể ngay lập tức làm cho các em hiểu rõ và thuần thục hơn trong quá trình áp dụng phương pháp; Tài liệu hướng dẫn phương pháp chưa có, giáo viên hướng dẫn chưa lường hết mức độ khó của phương pháp đối với sinh viên, nên chưa hướng dẫn cẩn thận và tỷ mỷ từng bước thực hiện; Đôi khi thiếu giáo viên, chúng tôi phải thành lập những nhóm quá đông, có thể xảy ra tình huống giáo viên không kiểm soát hết được các câu hỏi và trả lời, do vậy không kịp thời hỗ trợ khi cần thiết, hoặc một vài sinh viên cố tình tạo ra những tình huống đặc biệt, gây khố khăn cho người đối thoại.

Kết luận

Chúng tôi đánh giá phương pháp trực quan hoá và thị trường thông tin đáp ứng được những nhu cầu mới trong quá trình giảng dạy môi trường hiện nay, đặc biệt là trong thực tập về tài nguyên và môi trường. Nó cho phép hiện thực hoá mô hình lấy người học là trung tâm, chủ động, người dạy là người hướng đạo, điều khiển quá trình học. Phương pháp được sinh viên tiếp nhận, tham gia và đánh giá cao. Tuy nhiên, cũng cần soạn thảo tài liệu hướng dẫn phương pháp, giúp sinh viên điều khiển được quá trình học một cách tích cực hơn.

Tài liệu tham khảo

  1. Didier Oilo. Từ đại học truyền thống đến đại học ảo - Các công nghệ thông tin mới. Tài liệu chuyên đề tại Hội nghị Thế giới "Giáo dục đại học trong thế kỷ 21 - Tầm nhìn và Hành động"
  2. Trực quan hoá trong các chương trình huấn luyện có sự tham gia của cộng đồng. UNICEF Bangladesh, 1993

Content actions

Download module as:

PDF | EPUB (?)

What is an EPUB file?

EPUB is an electronic book format that can be read on a variety of mobile devices.

Downloading to a reading device

For detailed instructions on how to download this content's EPUB to your specific device, click the "(?)" link.

| More downloads ...

Add module to:

My Favorites (?)

'My Favorites' is a special kind of lens which you can use to bookmark modules and collections. 'My Favorites' can only be seen by you, and collections saved in 'My Favorites' can remember the last module you were on. You need an account to use 'My Favorites'.

| A lens I own (?)

Definition of a lens

Lenses

A lens is a custom view of the content in the repository. You can think of it as a fancy kind of list that will let you see content through the eyes of organizations and people you trust.

What is in a lens?

Lens makers point to materials (modules and collections), creating a guide that includes their own comments and descriptive tags about the content.

Who can create a lens?

Any individual member, a community, or a respected organization.

What are tags? tag icon

Tags are descriptors added by lens makers to help label content, attaching a vocabulary that is meaningful in the context of the lens.

| External bookmarks