Summary: Ý tưởng và quy trình sử dụng
CẤU TẠO NGUYÊN TỬ - BAI TAP CHINH SUA
Các nhà hoá học thực hiện các khảo sát trong thế giới vĩ mô và tìm cách hiểu các tính chất cơ bản của vật chất ở mức độ thế giới vi mô (nguyên tử và phân tử).
Nguyên nhân làm các chất hoá học có phản ứng với nhau hay không và phản ứng theo cách này hay cách khác là hệ quả trực tiếp của cấu trúc nguyên tử của hoá chất.
Hàng trăm năm nay, các nhà khoa học đã tiến hành các thí nghiệm để tìm hiểu nguyên do của sự khác nhau giữa các vật liệu. Thí dụ, ở nhiệt độ phòng và áp suất thường, helium là một chất khí không màu, clor là khí vàng lục, brom là chất lỏng màu đỏ, lưu huỳnh là chất rắn vàng nhạt còn thuỷ ngân lại là chất lỏng xám bạc.
Một số thời gian cùng các nhân vật và sự kiện quan trọng được ghi dưới đây:
Thuyết của Dalton về nguyên tử.
Từ "atom" (nguyên tử) có nguồn gốc từ "atomos" ở tiếng Hy-lạp, có nghĩa là "vật không thể phân chia được". Học thuyết về cấu tạo gián đoạn của vật chất đã xuất hiện ở Hy lạp cổ. Người đề xướng ra học thuyết này là Leucippos (khoảng 500-440 trước công nguyên) và Democritus (khoảng 460-370 trước công nguyên), theo học thuyết này thì mọi vật đều được cấu tạo từ những hạt rất nhỏ, nhỏ đến mức không thể chia nhỏ hơn nữa, gọi là các nguyên tử.
Khoảng thời gian 2000 năm giữa 400 BC đến thế kỷ 16 thuộc về trào lưu giả kim thuật. Mục tiêu biến kim loại thường thành vàng với quan niệm “vàng là kim loại nguyên chất, các kim loại còn lại bị lẫn tạp chất” hay “mọi kim loại đều cấu tạo từ lưu huỳnh, thủy ngân và muối theo những tỉ lệ khác nhau”
Hóa học hiện đại bắt đầu từ thế kỷ 16 với sự phát triển của ngành luyện kim, y học
Năm 1803, John Dalton (1766-1844, người Anh) đề nghị một mô hình dùng giải thích được nhiều tính chất của vật chất. Điểm mấu chốt trong mô hình của Dalton là giả thuyết vật chất là không liên tục.
Có thể tóm tắt thuyết Dalton về nguyên tử như sau:
Lý thuyết về nguyên tử của Dalton giải thích được nhiều kết quả thực nghiệm: