Skip to content Skip to navigation

Connexions

You are here: Home » Content » Thuận lợi và khó khăn khi tiến hành chuyển đổi việc đào tạo sang tín chỉ

Navigation

Lenses

What is a lens?

Definition of a lens

Lenses

A lens is a custom view of the content in the repository. You can think of it as a fancy kind of list that will let you see content through the eyes of organizations and people you trust.

What is in a lens?

Lens makers point to materials (modules and collections), creating a guide that includes their own comments and descriptive tags about the content.

Who can create a lens?

Any individual member, a community, or a respected organization.

What are tags? tag icon

Tags are descriptors added by lens makers to help label content, attaching a vocabulary that is meaningful in the context of the lens.

This content is ...

Affiliated with (What does "Affiliated with" mean?)

This content is either by members of the organizations listed or about topics related to the organizations listed. Click each link to see a list of all content affiliated with the organization.
  • VOCW

    This module is included inLens: Vietnam OpenCourseWare's Lens
    By: Vietnam OpenCourseWare

    Click the "VOCW" link to see all content affiliated with them.

Recently Viewed

This feature requires Javascript to be enabled.
 

Thuận lợi và khó khăn khi tiến hành chuyển đổi việc đào tạo sang tín chỉ

Module by: Ha Pham. E-mail the author

Summary: Tài liệu này tóm tắt những thuận lợi và khó khăn của nhóm giáo viên tổ THT 1, khoa Anh, ĐHNN-ĐHQG gặp phải khi tiến hành chuyển đỏi việc đào tạo sang học chế tín chỉ

Th.s. Nguyễn Thị Thanh Phúc

Thuận lợi

Việc áp dụng dạy-học theo tín chỉ tại tổ thực hành tiếng 1 có thể được thực hiện nhờ vào một số thuận lợi nhất định.

Đội ngũ giảng viên trẻ, nhiệt tình và sẵn sàng tiếp thu cái mới.

Như chúng ta đã biết, việc áp dụng đào tạo tín chỉ đòi hỏi rất cao ở người dạy. Người dạy không chỉ là người cung cấp và quyết định phương pháp giảng dạy kiến thức cho người học, người cố vấn cho quá trình học tập, tham gia vào quá trình học tập, mà còn là người học và nhà nghiên cứu. Một điều đáng mừng là đội ngũ giảng viên tại tổ thực hành tiếng 1 đã hội tụ tương đối đủ các yếu tố này.

Tại tổ thực hành tiếng 1, phần lớn các giảng viên đều có tuổi đời tương đối trẻ, khoảng hơn 50% là những giảng viên vừa mới ra trường, số còn lại đã dạy tại tổ thực hành tiếng 1 trong khoảng 2-5 năm. Do vậy, các giảng viên đều rất ham học hỏi và tiếp thu cái mới. Nhận thức rõ kinh nghiệm giảng dạy còn chưa nhiều, các giảng viên sẵn sàng đầu tư thời gian để tìm kiếm thêm các tài liệu tham khảo phục vụ cho quá trình giảng dạy ở nhà trường.

Đồng thời. do vừa trải qua thời kỳ học tập tại trường, họ cảm nhận được sâu sắc đời sống cũng như đòi hỏi của sinh viên. Nhờ vậy, họ nhận thức rõ sinh viên cần gì và đòi hỏi ở giảng viên những điều gì, cũng như các kiến thức nào sẽ hữu hiệu và thiết thực đối với sinh viên. Điều này giúp họ lựa chọn các loại hình học tập linh hoạt, tạo được hứng thú cho người học.

Bên cạnh đó, thực tế cho thấy các giảng viên trẻ được tiếp cận nhiều hơn với công nghệ so với các giảng viên tốt nghiệp ở những khóa trước đây, đồng nghĩa với việc công nghệ sẽ được vận dụng tốt hơn vào quá trình giảng dạy. Điều này không những giúp họ tiết kiệm được thời gian mà còn tận dụng được tối đa tính linh hoạt của các công cụ này, góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy và học tập.

Một đặc điểm nổi bật khác của các thầy cô giáo trẻ là họ rất ham học hỏi từ các đồng nghiệp, nhằm trau dồi cả về kiến thức cũng như về phương pháp giảng dạy. Đây cũng là một yếu tố hết sức quan trọng giúp nâng cao chất lượng đội ngũ giảng dạy nói chung, và đặc biệt là đội ngũ giáo viên khi áp dụng dạy-học theo tín chỉ.

Cơ sở vật chất và tài liệu học tập

Việc chuyển đổi sang đào tạo theo tín chỉ đòi hỏi các trường đại học phải có cơ sở vật chất tương đối tốt nhằm đáp ứng được nhu cầu nghiên cứu của người học. Trường ĐH Ngoại ngữ, ĐHQG Hà Nội là may mắn có được cơ sở vật chất tương đối tốt. Một số phòng học được trang bị máy chiếu và máy tính, phục vụ cho việc áp dụng công nghệ vào việc dạy và học, góp phần xây dựng bài học sinh động hơn. Hơn nữa, sinh viên được trang bị với phòng đọc thư viện với các đầu sách tương đối cập nhật. Với sinh viên năm thứ nhất, cuối mỗi giáo trình các kỹ năng nghe, nói, đọc, và viết, các em được cung cấp một nguồn tài liệu tham khảo phong phú, phù hợp với trình độ của mình. Phần lớn các tài liệu này đều có trong thư viện của khoa Anh và các sinh viên được mượn về nhà. Bên cạnh đó, với các tài liệu của kỹ năng nghe, sinh viên cũng được mượn băng về nhà để tự luyện tập.

Giáo trình giảng dạy của năm thứ nhất là giáo trình do các giảng viên tự biên soạn, mỗi năm lại được nghiên cứu và chỉnh sửa sao cho phù hợp hơn với sinh viên. Do không lấy một giáo trình có sẵn nào để sử dụng (trừ giáo trình Inside Out dùng trong kỹ năng nói) mà mỗi giáo trình là sự tổng hợp các bài học từ nhiều nguồn khác nhau, phù hợp với chủ điểm học tập theo từng tuần của sinh viên nên các giáo trình giảng dạy đều có nội dung hiện đại, hấp dẫn và có tính thực tiễn cao, có thể tạo hứng thú cho sinh viên trong quá trình học tập của mình.

Ngoài thư viện là nơi sinh viên có thể mượn sách về nhà, sinh viên còn có thể học tại các phòng học Multimedia với hệ thống trang thiết bị tương đối hiện đại, có ti vi với các chương trình truyền hình cáp. Do đó, các em được tiếp xúc trực tiếp với tiếng Anh tại những quốc gia mà nó được sử dụng là tiếng mẹ đẻ. Những chương trình bản ngữ này giúp sinh viên tăng cường hiểu biết về các nước nói tiếng Anh và nhờ đó tạo nên hứng thú học ngoại ngữ tốt hơn.

Chương trình giảng dạy sẵn có ở tổ thực hành tiếng 1

Một trong những khó khăn của việc áp dụng hình thức dạy và học theo tín chỉ là sẽ phải thay đổi lại cấu trúc của chương trình theo hướng lấy người học làm trung tâm. Tuy nhiên, đây lại là điểm thuận lợi đối với tổ thực hành tiếng 1, vì trên thực tế, trong 3 năm trở lại đây, các giáo trình và các chương trình học đã được thiết kế sẵn theo hướng này.

Đối với giáo trình đọc và nghe, ngoài tiết học trên lớp, sinh viên phải làm một khối lượng tương đối lớn các bài tập về nhà trong giáo trình tự học. Khi đến lớp, các sinh viên có thể bị kiểm tra không báo trước để xác định mức độ tin cậy của việc làm bài tập ở nhà. Do đó, sinh viên phải thực sự làm bài về nhà mới có thể giải đáp các câu hỏi của giáo viên. Ngoài ra, bài tập ở nhà cũng được dùng để thiết kế một phần trong bài kiểm tra giữa kỳ và cuối kỳ. Điều này đòi hỏi sinh viên phải có quá trình tự học thật nghiêm túc.

Bên cạnh đó, sinh viên phải thường xuyên làm các bài tập lớn (assignment) trong cả 3 kỹ năng nghe, đọc, và nói. Trong một học kỳ, trung bình mỗi sinh viên phải làm ít nhất là một bài tập lớn đối với mỗi kỹ năng. Ví dụ, đối với kỹ năng đọc ở học kỳ 2, mỗi tuần, sinh viên phải tự tìm một bài đọc phù hợp với chủ điểm học tập của tuần đó, nêu lên nhận xét của mình về bài đọc đó, liệt kê những từ và cấu trúc hay mà mình học được trong bài. Điều này giúp sinh viên năng động và chủ động hơn trong quá trình học tập.

Với kỹ năng viết, sinh viên phải làm tuyển tập bài viết, thường xuyên chỉnh sửa bài viết ở nhà, và đưa cho các sinh viên khác kiểm tra lại. Nhờ đó, các em thực hành nhiều hơn.

Khó khăn

Bên cạnh những thuận lợi kể trên, việc áp dụng hình thức đào tạo theo tín chỉ sẽ gặp phải một số khó khăn nhất định.

Các môn học đều là môn thực hành tiếng

Theo định nghĩa về tín chỉ của ĐHQG Hà Nội, hoạt động dạy-học theo tín chỉ được tổ chức theo ba hình thức: lên lớp, thực hành và tự học. Giờ tín chỉ lên lớp bao gồm 1 tiết giáo viên giảng bài và 2 tiết sinh viên tự học; giớ tín chỉ thực hành bao gồm 2 tiết giáo viên hướng dẫn, điều khiển và giúp đỡ sinh viên thực hành và 1 tiết sinh viên tự học, giờ tín chỉ tự học bao gồm 3 tiết sinh viên tự nghiên cứu.

Tuy nhiên, tại tổ thực hành tiếng 1, các môn học đều là môn thực hành tiếng chứ không đơn thuần là môn lý thuyết. Do đó, việc lựa chọn và phân bổ các giờ tín chỉ như thế nào cho hợp lý là một vấn đề khó. Ở đây, sinh viên học theo các kỹ năng chứ không được cung cấp các kiến thức lý thuyết đơn thuần. Việc dạy lý thuyết được lồng ghép vào quá trình dạy các kỹ năng, ví dụ như ở môn viết, trước mỗi bài viết sinh viên được yêu cầu phải củng cố lại kiến thức về một khía cạnh ngữ pháp nào đó.

Nhìn chung, kỹ năng của sinh viên năm thứ nhất còn rất yếu, đặc biệt là kỹ năng giao tiếp nghe và nói. Do đó, cho dù lựa chọn thực hiện giờ tín chỉ lên lớp, hoặc thực hành là chủ yếu thì thời gian được thực hành của sinh viên vẫn là quá ít. Giờ học tại lớp là môi trường tốt nhất để sinh viên trau dồi kỹ năng giao tiếp của mình. Nếu thời lượng này bị rút ngắn để thay bằng thời gian học tập ở nhà thì sẽ dẫn đến hậu quả là kỹ năng giao tiếp của sinh viên sẽ yếu.

Đặc điểm của sinh viên

Sinh viên năm thứ nhất là những sinh viên lần đầu làm quen với môi trường học đại học. Trong suốt những năm phổ thông, phần lớn các em đã quen với phương pháp học tương đối thụ động, chủ yếu là tiếp nhận kiến thức qua hệ thống sách giáo khoa và các thầy cô giáo. Do đó, khi bước vào trường đại học, phần lớn sinh viên còn quen với lối học thụ động ở cấp học phổ thông, chưa có sự am hiểu nhiều về khái niệm tự học hay tự nghiên cứu.. Bởi vậy, việc yêu cầu sinh viên năm thứ nhất phải ngay lập tức có khả năng tự học và tự nghiên cứu là điều khó khăn và đôi khi gây áp lực đối với các em.

Bên cạnh đó, thực tế là phương pháp dạy-học lấy người học làm trung tâm đang được triển khai rất rộng rãi ở hầu hết các môn học. Đối với sinh viên, ngoài học các môn thực hành tiếng, các em còn phải học rất nhiều môn chung như triết học, tiếng Việt, v.v… Khi học những môn này, sinh viên cũng phải thường xuyên làm các bài tập lớn về nhà, cũng như tham gia nhiều buổi hội thảo. Điều này gây ra tình trạng quá tải đối với sinh viên khi các em phải làm quá nhiều bài tập lớn.

Ngoài ra, có một thực tế là đa số sinh viên đến từ các tỉnh thành khác ngoài Hà Nội. Bản thân các em đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn trong cuộc sống khi mới xa nhà. Yếu tố khách quan này ảnh hưởng không nhỏ tới việc học tập của sinh viên khi các em phải lo lắng nhiều hơn đến cuộc sống cá nhân, đồng thời lại phải tiếp cận với cách học hoàn toàn mới, đòi hỏi tính chủ động cao.

Nhìn chung, việc dạy và học theo tín chỉ sẽ gặp nhiều khó khăn trên đối tượng sinh viên năm thứ nhất.

Cơ sở vật chất

Tuy trường ĐHNN, ĐHQG Hà Nội có một hệ thống cơ sở vật chất tương đối tốt, nhưng chắc chắn là không thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu học tập của sinh viên nếu hình thức dạy và học theo tín chỉ được áp dụng đại trà vì quy mô của hệ thống này quá nhỏ.

Đối với năm thứ nhất, với số lượng sinh viên là khoảng 500, nếu tất cả các sinh viên này đều lên thư viện tìm tài liệu sau giờ lên lớp thì không có hệ thống thư viện nào đáp ứng nổi. Đó là chưa kể nhu cầu mượn sách và tài liệu tham khảo của sinh viên sẽ là rất lớn. Với mỗi cuốn tài liệu tham khảo, tại thư viện khoa Anh, chỉ có 2 bộ sách photo. Điều này cũng đồng nghĩa với việc chỉ 2 sinh viên mượn được tài liệu đó, còn những sinh viên khác sẽ phải chờ đến lượt.

Tóm lại, nếu hình thức dạy-học theo tín chỉ được áp dụng rộng rãi thì cơ sở vật chất hiện tại của nhà trường khó có thể đáp ứng được nhu cầu của sinh viên.

Content actions

Download module as:

PDF | EPUB (?)

What is an EPUB file?

EPUB is an electronic book format that can be read on a variety of mobile devices.

Downloading to a reading device

For detailed instructions on how to download this content's EPUB to your specific device, click the "(?)" link.

| More downloads ...

Add module to:

My Favorites (?)

'My Favorites' is a special kind of lens which you can use to bookmark modules and collections. 'My Favorites' can only be seen by you, and collections saved in 'My Favorites' can remember the last module you were on. You need an account to use 'My Favorites'.

| A lens I own (?)

Definition of a lens

Lenses

A lens is a custom view of the content in the repository. You can think of it as a fancy kind of list that will let you see content through the eyes of organizations and people you trust.

What is in a lens?

Lens makers point to materials (modules and collections), creating a guide that includes their own comments and descriptive tags about the content.

Who can create a lens?

Any individual member, a community, or a respected organization.

What are tags? tag icon

Tags are descriptors added by lens makers to help label content, attaching a vocabulary that is meaningful in the context of the lens.

| External bookmarks