Máy bơm dâng bằng khí nén, còn gọi là bơm sục khí, có thể dâng nước từ các lổ khoan. Loại bơm này được sử dụng rộng rãi hơn cả là bơm nước chứa bùn cát từ các lổ khoan trước khi đặt đặt máy bơm nhúng li tâm, hoặc dâng nước từ lỗ khoan nếu có yêu cầu tách ga khỏi nước. Nguyên tắc hoạt động của bơm này là dùng quy tắc bình thông nhau. Hình 7 - 12, mô tả về cấu tạo của máy bơm sục khí. Khí nén được dẫn theo ống theo ống 4 vào miệng phun 2 vào ống dâng 3. Trong ống 3 nước và khí nén tạo nên hỗn
Hình 7 - 12. Bơm sục khí. Hình 7 - 13. Bơm nước va.
hợp khí và nước ( nhũ tương ). Hố khoan đầy nước và ống dâng đầy hỗn hợp khí và nước tạo thành những bình thông nhau. Vì tỷ trọng của hỗn hợp nhỏ hơn tỷ trọng nước, do vậy nước đẩy hỗn hợp lên mặt nước, đó cũng chính là nguyên tắc làm việc của loại máy bơm này. Nhũ tương khí nước theo đường ống sẽ được dâng lên độ cao
HdhHdh size 12{ { size 24{H} } rSub { size 8{ ital "dh"} } } {}, nếu :
g.h=ghh(Hdh+h)g.h=ghh(Hdh+h) size 12{g "." h= { size 24{g} } rSub { size 8{ ital "hh"} } \( { size 24{H} } rSub { size 8{ ital "dh"} } +h \) } {}( 7 - 15 )
Trong đó:
g,ghhg,ghh size 12{g, { size 24{g} } rSub { size 8{ ital "hh"} } } {}là trọng lượng riêng của nước và của hỗn hợp, N/m3;
h là độ ngập sâu của miệng phun dưới mực nước động, m.
Như vậy có nghĩa là chiều caodâng nước phụ thuộc vào quan hệ tỷ trọng nước, tỷ trọng hỗn hợp khí nước và độ sâu đặt miệng phun.
Khi đạt đến mút ống 3, hỗn hợp sẽ vào bể 6, từ đây khí và nước sẽ được tách ra: phần nước sẽ theo ống 5 đến nơi dùng, còn khí sẽ thải ra ngoài theo ống 7.
Từ ( 7 - 15 ) rút ra được
g(H−Hdh)=ghhHg(H−Hdh)=ghhH size 12{g \( H- { size 24{H} } rSub { size 8{ ital "dh"} } \) = { size 24{g} } rSub { size 8{ ital "hh"} } H} {}; ở đây H là độ sâu nhúng của miệng phun, mét. Cũng từ đây biến đổi tiếp, ta có kết quả:
H =
Hdh.g/(g−ghh)=KHdhHdh.g/(g−ghh)=KHdh size 12{ { size 24{H} } rSub { size 8{ ital "dh"} } "." g/ \( g- { size 24{g} } rSub { size 8{ ital "hh"} } \) =K { size 24{H} } rSub { size 8{ ital "dh"} } } {}, m;( 7 - 16 )
Ở đây K là hệ số nhúng miệng phun, nó nói lên rằng H lớn hơn
HdhHdh size 12{ { size 24{H} } rSub { size 8{ ital "dh"} } } {}bao nhiêu lần. Bảng sau đây cho ta quan hệ giữa K và hiệu suất của bơm nhúng theo
HdhHdh size 12{ { size 24{H} } rSub { size 8{ ital "dh"} } } {}.
Bảng 1
| Chỉ số |
Chiều cao dâng của hỗn hợp
HdhHdh size 12{ { size 24{H} } rSub { size 8{ ital "dh"} } } {}, m |
| |
<15 |
15 ... 30 |
30 ... 60 |
60 ... 90 |
90 ... 120 |
| K |
3,0 ... 2,5 |
2,5 ... 2,2 |
2,2 ... 2,0 |
2,0 ... 1,75 |
1,75 ... 1,65 |
| |
0,59 ... 0,57 |
0,57 ... 0,54 |
0,54 ... 0,5 |
0,5 ... 0,41 |
0,41 ... 0,40 |
Đầu cuối của ống dâng cần thấp hơn miệng phun từ 3 ... 6 mét.
Tiêu hao cần thiết của không khí goị là suất tiêu hao q( tính bằng m3), để dâng 1 m3 nước với hiệu suất và áp suất khí trời đã cho:
q =
Hdh23h'lg[(H−Hdh+10)/10]Hdh23h'lg[(H−Hdh+10)/10] size 12{ { { { size 24{H} } rSub { size 8{ ital "dh"} } } over {"23" { size 24{h} } rSub { size 8{'} } "lg" \[ \( H- { size 24{H} } rSub { size 8{ ital "dh"} } +"10" \) /"10" \] } } } {} ( 7 - 17 )
Công thức ( 7 - 17 ) nhận được trên cơ sở phân tích công tiêu hao trên máy nén để nén khí theo chu trình đẳng nhiệt.
Hiệu suất của bơm dâng bằng khí nén tính theo công thức:
h'=g.QHdh/Ah'=g.QHdh/A size 12{ { size 24{h} } rSub { size 8{'} } =g "." Q { size 24{H} } rSub { size 8{ ital "dh"} } /A} {}. Ở đây Q là lưu lượng nước cần bơm lên độ cao
HdhHdh size 12{ { size 24{H} } rSub { size 8{ ital "dh"} } } {}, m3/s. A là năng lượng khí nén ở từ cửa ra miệng phun vào ống nâng, kW. Vậy lượng khí cần thiết để dâng lưu lượng Q trong điều kiện nhiết độ không khí 15 ... 200C là :
W = q.Q/60, m3/ph ( 7 - 18 )
Khi nhiệt độ khác 15 ... 200C thì phải nhân thêm hệ số hiệu chỉnh k ( ở vùng trung Á Liên Xô cũ k = 1,2 ).
Áp suất không khí cần cần thiết để nâng được nước là: p = 0,01 ( H -
HdhHdh size 12{ { size 24{H} } rSub { size 8{ ital "dh"} } } {} + ht ), trong đó ht là tổn thất cột áp trong ống dẫn khí ở đoạn từ máy nén khí đến miệng phun, thường ht < 5 m .
Máy bơm dâng bằng khí nén có ưu điểm là đơn giản, an toàn, có khả năng dâng nước từ các hố đứng sâu. Nhưng nhược điểm của nó là hiệu suất rất thấp ( 20 ... 25 % ) và chỉ dâng được nước ở hố sâu, điều này gây nên yêu cầu đặt sâu ống dưới mực nước động.