Tổng quát ta thấy rằng lưới tấm là do các hàng chỉ lưới xếp song song với nhau và được các gút liên kết (gút dẹt hoặc gút chân ếch đơn,...) gút lại với nhau mà thành. Diện tích tấm lưới (lớn hay nhỏ) tùy thuộc vào kích thước mắt lưới và số lượng mắt lưới có trong tấm lưới. Kích thước mắt lưới nói lên khả năng có thể đánh bắt cá lớn hay cá bé; mắt lưới càng nhỏ (lưới dầy) càng có khả năng bắt được nhiều loại cá có kích thước bé, nhưng lưới càng dầy lại càng tiêu tốn nhiều vật tư chỉ lưới để làm lưới, mặt khác còn làm tăng sức cản cho tấm lưới và tăng giá thành sản phẩm.
Tuy nhiên chất lượng tấm lưới không phải phụ thuộc vào kích thước mắt lưới mà chủ yếu phụ thuộc vào chất lượng chỉ lưới (loại chỉ) và độ thô của chỉ cấu thành nên tấm lưới. Để có thể phân biệt giữa các loại tấm lưới thường người ta dựa vào các chỉ tiêu sau.
Kích thước mắt lưới (a hoặc 2a)
Kích thước mắt lưới nói lên tính chọn lọc cá và lực cản của ngư cụ. Độ lớn của mắt lưới được biểu thị thông qua 1 cạnh của mắt lưới, a, hay 2 cạnh liên tiếp của mắt lưới, 2a (H 2.1). Đơn vị tính cạnh mắt lưới thường là mm, nhưng có khi còn dùng đơn vị cm hay dm.
Đôi khi người ta còn gọi:
Lưới ba: có a = 30 mm hay a = 3 cm
Lưới năm: có a = 50 mm hay a = 5 cm
Lưới bảy: có a = 70 mm hay a = 7 cm
Chiều dài (L) và chiều rộng (H) của tấm lưới
Chiều dài (L) và chiều rộng (H) của tấm lưới nói lên độ lớn của tấm lưới. Thông thường trong công nghiệp sản xuất lưới, chiều dài tấm lưới thường được biểu thị bằng chiều dài kéo căng các cạnh mắt lưới (L0), đơn vị tính thường là mét và chiều rộng biểu thị bằng số lượng mắt lưới (n) có trong chiều rộng của tấm lưới đó. Thông thường để đan một tấm lưới, khi bắt đầu đan các máy dệt thường có khổ đan với số lượng mắt gầy ban đầu là 500 mắt lưới hoặc 1000 mắt.
Hệ số rút gọn của tấm lưới (U)
Hệ số rút gọn (U) của tấm lưới nói lên tấm lưới được rút ngắn lại theo một tỷ lệ nào đó so với chiều dài hoặc chiều rộng kéo căng của tấm lưới. Hệ số rút gọn càng nhỏ đối với một chiều nào đó sẽ cho ta biết chiều đó càng bị ngắn lại, nhưng chiều kia thì sẽ dài ra tương ứng. Ta có hai loại hệ số rút gọn: Hệ số rút gọn ngang (U1); hệ số rút gọn đứng (U2.)
Hệ số rút gọn ngang (U1)
Hệ số rút gọn ngang (U1) là hệ số nói lên tỷ lệ rút gọn giữa chiều ngang thực tế và chiều ngang kéo căng của tấm lưới. Hệ số rút gọn ngang (U1) được xác định bởi biểu thức sau:
ở đây:L0 = 2a.n◊ - là chiều dài kéo căng của của tấm lưới.; L - là chiều dài thực tế của tấm lưới đó.
Hệ số rút gọn đứng (U2)
Tương tự, hệ số rút gọn đứng (U2) là hệ số biểu thị mức rút ngắn đi giữa chiều cao thực tế và chiều cao kéo căng của tấm lưới. Hệ số rút gọn đứng (U2) được xác định bởi biểu thức sau:
ở đây:H0 = 2a.m◊ -là chiều cao kéo căng của của tấm lưới; H - là chiều cao thực tế của tấm lưới đó.
Từ hệ số rút gọn ngang U1, ta có thể suy ra hệ số rút gọn đứng U2 và ngược lại. Ta có biểu thức liên hệ giữa U1 và U2 như sau:
suy ra:
Giá trị U1 và U2 luôn nhỏ hơn 1: U1 < 1 và U2 < 1. Để thuận tiện, ta có thể dựa U1 hoặc U2 để tra giá trị U2 hoặc U1 còn lại trong Bảng 2.1.
Thí dụ 1
Giả sử ta có một tấm lưới hình chữ nhật có chiều dài kéo căng là L0 = 10 m, chiều cao kéo căng là H0 = 3 m. Nếu ta đem chiều dài L0 này rút gọn lại ở kích thước L = 6 m. Hỏi chiều cao lưới rút gọn H sẽ là bao nhiêu?
Giải:
Trước hết ta cần xác định hệ số rút gọn U1 theo (2.1) là:
Từ U1 tra Bảng 2.1, ta được: U2 = 0,8
Vậy, chiều cao lưới được rút gọn là:H = U2.H0 = 0,8 x 3 = 2,4 m
| Bàng 2.1 - Bảng tra giá trị U2 từ U1 | ||||||||||
| U1 | U1+ U1 | |||||||||
| 0.00 | 0.01 | 0.02 | 0.03 | 0.04 | 0.05 | 0.06 | 0.07 | 0.08 | 0.09 | |
| 0.00 | 1.0 | 1.0 | 1.0 | 1.0 | 1.0 | 1.0 | 1.0 | 1.0 | 1.0 | 1.0 |
| 0.10 | 0.99 | 0.99 | 0.99 | 0.99 | 0.99 | 0.99 | 0.99 | 0.98 | 0.98 | 0.98 |
| 0.20 | 0.98 | 0.98 | 0.98 | 0.97 | 0.97 | 0.97 | 0.97 | 0.96 | 0.96 | 0.96 |
| 0.30 | 0.95 | 0.95 | 0.95 | 0.94 | 0.94 | 0.94 | 0.93 | 0.93 | 0.92 | 0.92 |
| 0.40 | 0.92 | 0.91 | 0.91 | 0.91 | 0.90 | 0.89 | 0.89 | 0.88 | 0.88 | 0.87 |
| 0.50 | 0.87 | 0.86 | 0.85 | 0.85 | 0.84 | 0.84 | 0.83 | 0.82 | 0.89 | 0.80 |
| 0.60 | 0.80 | 0.79 | 0.78 | 0.78 | 0.77 | 0.76 | 0.75 | 0.74 | 0.73 | 0.72 |
| 0.70 | 0.71 | 0.70 | 0.69 | 0.68 | 0.67 | 0.66 | 0.65 | 0.64 | 0.63 | 0.61 |
| 0.80 | 0.60 | 0.59 | 0.57 | 0.56 | 0.54 | 0.53 | 0.51 | 0.49 | 0.47 | 0.46 |
| 0.90 | 0.44 | 0.42 | 0.39 | 0.37 | 0.34 | 0.31 | 0.28 | 0.24 | 0.20 | 0.14 |
| 1.0 | 0.0 | 0.0 | 0.0 | 0.0 | 0.0 | 0.0 | 0.0 | 0.0 | 0.0 | 0.0 |
Diện tích thật và diện tích giả của tấm lưới
- Diện tích giả (S0)
Diện tích giả (S0) của tấm lưới là diện tích mang tính lý thuyết, được dùng để ước lượng, so sánh giữa các tấm lưới với nhau. Diện tích này tính toán trên cơ sở là dùng chiều dài kéo căng và chiều rộng kéo căng để tính ra diện tích. Diện tích này không bao giờ có được trong thực tế, bởi vì khi tấm lưới được kéo căng theo một chiều nào đó thì chiều kia sẽ bị rút ngắn lại.
Trong thực tế, người ta thường áp dụng diện tích giả trong việc ước lượng trọng lượng lưới khi biết trọng lượng của một đơn vị diện tích giả.
- Diện tích thật (S)
Diện tích thật (S) của tấm lưới là diện tích thực tế, bởi vì khi một chiều nào đó của tấm lưới được kéo ra với một độ dài nào đó thì kích thước chiều kia cũng thay đổi theo với một tỷ lệ tương ứng. Diện tích thật thì luôn nhỏ hơn diện tích giả.
Chú ý:
Bởi vì diện tích tấm lưới sẽ bị biến đổi tùy thuộc vào hệ số rút gọn, do vậy nếu ta muốn có diện tích tấm lưới đạt giá trị lớn nhất ta nên cho tấm lưới rút gọn với hệ số U1=U2= 0.707, khi này tấm lưới sẽ có dạng hình vuông.
Cường độ tấm lưới
Cường độ tấm lưới nói lên độ bền của tấm lưới. Cường độ tấm lưới phụ thuộc vào nguyên vật liệu làm lưới và kiểu hình thức gút liên kết tạo thành mắt lưới.
Người ta nhận thấy rằng sau khi chỉ đã được đan thành lưới, cường độ đứt của chỉ bị giảm đi 30-40% so với ban đầu. Sự giảm này là do bởi sự hình thành các gút lưới, lưới được đan với gút càng phức tạp thì cường độ chỉ càng giảm.










