Skip to content Skip to navigation

Connexions

You are here: Home » Content » Một số kết quả nghiên cứu đánh giá sự sử dụng bền vững tài nguyên sinh vật và phát triển bền vững bằng công cụ Dấu chân sinh thái và thước đo bền vững BS (Barometer of Sustainability)

Navigation

Lenses

What is a lens?

Definition of a lens

Lenses

A lens is a custom view of the content in the repository. You can think of it as a fancy kind of list that will let you see content through the eyes of organizations and people you trust.

What is in a lens?

Lens makers point to materials (modules and collections), creating a guide that includes their own comments and descriptive tags about the content.

Who can create a lens?

Any individual member, a community, or a respected organization.

What are tags? tag icon

Tags are descriptors added by lens makers to help label content, attaching a vocabulary that is meaningful in the context of the lens.

This content is ...

Affiliated with (What does "Affiliated with" mean?)

This content is either by members of the organizations listed or about topics related to the organizations listed. Click each link to see a list of all content affiliated with the organization.
  • VOCW

    This module is included inLens: Vietnam OpenCourseWare's Lens
    By: Vietnam OpenCourseWare

    Click the "VOCW" link to see all content affiliated with them.

Recently Viewed

This feature requires Javascript to be enabled.
 

Một số kết quả nghiên cứu đánh giá sự sử dụng bền vững tài nguyên sinh vật và phát triển bền vững bằng công cụ Dấu chân sinh thái và thước đo bền vững BS (Barometer of Sustainability)

Module by: Nguyễn Thị Phương Loan. E-mail the author

Summary: Bài viết này trình bày một số kết quả nghiên cứu đánh giá việc sử dụng bền vững tài nguyên sinh vật bằng thước đo dấu chân sinh thái (Ecological Footprint - EF) và thước đo bền vững BS (Barometer of sustainable), được tính từ chỉ số thịnh vượng sinh thái (Ecological wellbeing) và thịnh vượng xã hội (Social wellbeing). Kết quả nghiên cứu đánh giá phát triển bền vững do các tác giả triển khai đã đạt được các kết quả sau: 1.Đã tính được sức tải sinh thái và dấu chân sinh thái thành phần cho Việt Nam từ 2001 đến 2003, kết quả cho thấy dấu chân sinh thái quốc gia đã lớn hơn sức tải sinh thái quốc gia, tạo áp lực xấu lên môi trường và tài nguyên thiên nhiên. 2. Đã xác định được chỉ số thịnh vượng sinh thái và xã hội cho vùng nuôi thủy sản Nghĩa Hưng bằng mô hình ASI, xây dựng trên cơ sở thước đo BS. Mức độ phát triển bền vững ở đây được đánh giá là trung bình.

Đặt vấn đề

Lịch sử phát triển xã hội loài người gắn liền với lịch sử khai thác sử dụng tài nguyên sinh vật phục vụ cho các nhu cầu ngày càng đa dạng, ngày càng cao hơn của con người. Chúng ta đã nói nhiều về việc chất lượng cuộc sống của con người phụ thuộc vào khả năng của hệ sinh thái cung ứng tài nguyên, vào sức khỏe hệ sinh thái và việc con người đang khai thác quá mức tài nguyên; tuy nhiên, chúng ta còn ít sử dụng những thước đo định lượng để chứng minh cho các nhận định đó. Gần đây, trên thế giới đã nghiên cứu thí điểm sử dụng nhiều tiếp cận khác nhau để đo đạc việc sử dụng tài nguyên, phát triển bền vững nói chung, cũng như những thước đo liên quan tới sử dụng tài nguyên sinh vật nói riêng… Nhưng việc đưa chúng vào sử dụng trong thực tiễn ở Việt Nam còn chưa được phổ biến. Bài viết này trình bày một số kết quả nghiên cứu đánh giá việc sử dụng bền vững tài nguyên sinh vật bằng thước đo dấu chân sinh thái (Ecological Footprint - EF) và thước đo bền vững BS (Barometer of sustainable), được tính từ chỉ số thịnh vượng sinh thái (Ecological wellbeing) và thịnh vượng xã hội (Social wellbeing).

Thước đo dấu chân sinh thái, khái niệm và kết quả nghiên cứu tính cho Việt Nam

Dấu chân sinh thái được tính bằng diện tích cần thiết để cung ứng cho con người các dịch vụ sản xuất lương thực, đồng cỏ chăn nuôi và mặt nước cung cấp thủy sản, lâm sản, đất xây dựng và diện tích rừng để hấp thụ chất thải (CO2) do con người thải ra liên quan đến sản xuất năng lượng (hình 1). Các diện tích khác nhau được quy đổi về cùng một đơn vị tính là hecta toàn cầu (global hecta) thông qua đại lượng yếu tố cân bằng (có đơn vị tính bằng gha/ha, thể hiện tiềm năng cho năng suất trung bình của một diện tích sản xuất sinh học) và yếu tố sản lượng, đặc trưng cho chênh lệch năng suất của một diện tích địa phương so với trung bình quốc tế, tạo ra được do sự khác biệt về điều kiện khí hậu hoặc phương pháp quản lí sản xuất. Ví dụ, một hecta đồng cỏ ở Niu Dilân sản xuất được nhiều thịt hơn một hecta đồng cỏ ở Gioc đan. Năm 2003, yếu tố cân bằng của đất canh tác là 2,21, đất rừng là 1,34, đất chăn nuôi là 0,49, mặt thủy sinh là 0,36 và đất xây dựng là 2,21.

Hình 1
Hình 1 (graphics1.png)

Hình 1: Diễn biến các dấu chân sinh thái thành phần toàn cầu giai đoạn 1961-2003 [7]

Hình 2
Hình 2 (graphics2.png)

Hình 2: Dấu chân sinh thái toàn cầu giai đoạn 1961–2003 (đường đơn bên trái hình) và ba kịch bản diễn biến dấu chân sinh thái giai đoạn 2003–2100 (ba đường bên phải hình, trong đó đường đậm trên cùng thể hiện kịch bản cách tiêu thụ toàn cầu không thay đổi, hai đường dưới thể hiện các kịch bản cách tiêu thụ toàn cầu giảm với những mức độ khác nhau) [7]

Dấu chân sinh thái được dùng để mô tả định lượng hóa mức độ áp lực của việc tiêu thụ tài nguyên thiên nhiên lên sinh quyển trái đất. Ngoài đơn vị đo là gha, dấu chân sinh thái còn được đo bằng một đại lượng khác, được hiểu là số trái đất cần thiết cho nhu cầu sản phẩm sinh thái của con người, tính bằng tỷ số giữa số đo dấu chân sinh thái bằng gha và sức tải sinh thái khu vực vào cùng thời điểm tính toán. Giá trị của dấu chân sinh thái tính theo cách này nhỏ hơn hay bằng một trái đất thì phát triển là bền vững.

Dấu chân sinh thái toàn cầu đã tăng rất nhanh từ 1961 đến 2003, trong đó dấu chân sinh thái hấp thụ CO2 thải ra từ việc đốt nhiên liệu hóa thạch tăng mạnh nhất. Giới hạn trên của việc sử dụng bền vững tài nguyên sinh thái của trái đất được tính bằng sức tải sinh thái toàn cầu, tức dấu chân sinh thái con người được phép sử dụng mà không gây tổn thương hệ sinh thái. Năm 2003, diện tích đất và nước cho năng suất sinh học và hấp thụ chất thải toàn cầu ước tính là 11,2 tỉ gha, chia đều cho 6,3 tỉ dân cư trên trái đất, cho sức tải sinh thái trung bình toàn cầu là 1,8 gha/người. Điều này có nghĩa là tất cả các quốc gia có dấu chân sinh thái lớn hơn 1,8 gha/người đều bị coi là sử dụng không bền vững tài nguyên sinh thái, “lạm dụng” hệ sinh thái (Lượng tiêu thụ của mỗi quốc gia được tính bằng lượng sản phẩm sản xuất + lượng sản phẩm nhập khẩu – lượng sản phẩm xuất khẩu). Trên bình diện toàn cầu, dấu chân sinh thái năm 2003 đã lên tới 2,2 gha/người. Diễn biến dấu chân sinh thái toàn cầu đến 2100 được tính cho 3 kịch bản khác nhau (hình 2), trong đó đường đậm cao nhất thể hiện xu thế tiếp diễn từ diễn thế hiện tại, một kịch bản rất xấu. Nếu xu hướng tăng dân số, tăng tiêu thụ thực phẩm, len sợi và phát thải CO2 tiếp tục như hiện nay,­­ thì đến năm 2050, loài người sẽ cần một lượng gấp 2 lần khả năng cung ứng của tự nhiên hiện nay. Còn nếu xã hội kiểm soát tiêu thụ ở mức chặt chẽ nhất thì cũng phải tới khoảng năm 2040 dấu chân sinh thái mới cân bằng được với sức tải sinh thái toàn cầu.

Dấu chân sinh thái của các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình thay đổi rất ít (luôn thấp hơn 0,8 gha/người trong suốt các năm đã được tính). Các nước phát triển đều có dấu chân sinh thái cao và gia tăng, trung bình giai đoạn 1991-2001 tăng 8%. Không những thế, theo Mathis Wacknagel (người đứng đầu Global Footprint Network), các nước giàu tạo ra áp lực rất lớn đối với nước nghèo trong khai thác tài nguyên. Ví dụ như, việc nước giàu có nhu cầu cao về dầu cọ châu Á, đậu nành Nam Mỹ, dầu thô Trung Đông đã đưa chủ nhân các nguồn tài nguyên này đến chỗ tăng cường khai thác và phá hủy tài nguyên môi trường của chính mình.

Phương pháp đánh giá phát triển bằng dấu chân sinh thái còn có những hạn chế nhất định. Đó là: (1) Dấu chân sinh thái hiện chỉ tính cho những nơi có sự tồn tại rõ ràng của nhu cầu, hoặc có khả năng cung cấp dịch vụ sinh thái. (2) Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tái tạo của tự nhiên trong tương lai không được tính tới, như: thải các chất mà tự nhiên không đồng hóa được (PCBs, Dioxin, chất gây ô nhiễm bền vững khác…) và các quá trình đe dọa sức tải sinh thái (sự tuyệt chủng của các loài, mặn hóa do tưới tiêu, xói mòn đất do canh tác,…). (3) Không tính cho nước ngọt, môi trường và nguồn nuôi dưỡng sự sống đang bị đe dọa, do chúng không phải là sản phẩm hay dịch vụ sinh thái. (4) Các tiêu thụ do du lịch đang được tính cho địa phương diễn ra hoạt động du lịch, chứ không phải tính cho quê hương của du khách. (5) Nhu cầu về sức tải sinh thái để giải quyết vấn đề phát thải các khí nhà kính không phải CO2 chưa được tính trong dấu chân sinh thái. Những kiến thức chưa hoàn chỉnh về sự thay đổi của các khí nhà kính này gây ra rất nhiều khó khăn trong việc ước lượng sức tải sinh thái cần thiết để điều tiết và giám sát khả năng thay đổi khí hậu của chúng.

Tổ chức NEF (the New Economic Foundation) đã sử dụng các thước đo dấu chân sinh thái, tuổi thọ, chỉ số hài lòng để sáng tạo ra một chỉ số mới gọi là Chỉ số hạnh phúc hành tinh (Happy Planet Index – HPI).

Công thức tính HPI rất đơn giản như sau:

HPI = (Chỉ số hài lòng x Tuổi thọ kỳ vọng)/Dấu chân sinh thái

Tích của Chỉ số hài lòng với Tuổi thọ kỳ vọng được gọi là Số năm sống hạnh phúc trong cuộc đời (Happy life years – HLY). Các tham số trong công thức tính HPI đều là những độ đo được tính cho toàn cầu trong các báo cáo phát triển khác nhau. Tuổi thọ kì vọng của mỗi quốc gia được kế thừa từ “Báo cáo phát triển con người” thường niên của Liên Hợp Quốc. Chỉ số hài lòng được hướng dẫn kế thừa từ ngân hàng dữ liệu thế giới [9]. Theo kết quả tính của Nic Marks và cộng sự [8], Việt Nam có chỉ số HPI cao nhất châu Á, 61,2 (hình 3).

Hình 3
Hình 3 (graphics3.png)

Độ biến động của các chỉ số được phân cấp đánh giá, quy ước màu đưa lên bản đồ như sau:

Bảng 1
  Đỏ đậm Đỏ Vàng Xanh lá cây
Chỉ số hài lòng   <5,5 Không hài lòng 5,5 – 6,7 Trung bình >6,7 Hài lòng
Tuổi thọ kì vọng   <60 Tồi, nghèo 60 – 75 Trung bình >75 Tốt
Dấu chân sinh thái >5 trái đất 2 trái đất 1-2 trái đất <1 trái đất

Hình 3: Một số giá trị tính chỉ số HPI cho châu Á (bảng bên trái) và toàn cầu (hình bên phải) [8].

Ở Việt Nam, khái niệm và thước đo dấu chân sinh thái chưa được phổ cập. Trong phạm vi chương trình môn học “Tài nguyên thiên nhiên” của hệ đào tạo cử nhân chất lượng cao, trường Đại học khoa học tự nhiên, chúng tôi đã tổ chức nghiên cứu tìm hiểu các “Báo cáo sự sống hành tinh” từ 1998 đến 2006, nghiên cứu phương pháp luận tính dấu chân sinh thái. Trong các nghiên cứu tiếp theo, chúng tôi đã xây dựng được quy trình tính dấu chân sinh thái và tiến hành tính dấu chân sinh thái cho Việt Nam trong 3 năm 2001, 2002, 2003. Kết quả tính thể hiện trên hình 3. Đáng chú ý là: Theo “Living Planet Report, 2006”, dấu chân sinh thái của Việt Nam năm 2003 là 0,91 gha/người, nhỏ hơn rất nhiều so với sức tải sinh thái toàn cầu (1,8 gha/người) và dấu chân sinh thái trung bình toàn cầu (2,2 gha/người). Tuy nhiên, xét trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam, dấu chân sinh thái của người Việt đã lớn hơn so với sức tải sinh thái, bắt đầu từ sau năm 2000, nghĩa là đang gây tác động xấu cho tài nguyên sinh vật và hệ sinh thái quốc gia. Trong dấu chân sinh thái trung bình toàn cầu, dấu chân sinh thái cho lương thực là 0,9 gha/người, chiếm khoảng 35% tổng giá trị, dấu chân năng lượng nhiên liệu hóa thạch mà các hộ gia đình sử dụng tương đương 12% giá trị dấu chân toàn cầu. Dấu chân sinh thái thành phần lớn nhất của người Việt hiện nay là việc sử dụng đất trồng trọt, chăn nuôi và đốt nhiên liệu hóa thạch, chúng đóng góp vai trò chính làm dấu chân sinh thái quốc gia lớn hơn sức tải sinh thái quốc gia. Đây cũng là những lĩnh vực Việt Nam có thể xem xét giảm nhẹ nhu cầu khai thác, để giảm được dấu chân sinh thái xuống bằng với sức tải sinh thái quốc gia. Từ đây có thể đưa ra những khuyến cáo cho các cá nhân tham gia vào việc làm giảm dấu chân sinh thái toàn cầu, bằng những cách như chuyển sang sử dụng các phương tiện giao thông thân thiện môi trường, tăng cường sử dụng năng lượng tái tạo…

Hình 4
Hình 4 (graphics4.wmf)

Hình 4: Sức tải sinh thái (đường đậm) và dấu chân sinh thái (đường nhạt) của Việt Nam [5]

Dấu chân sinh thái thành phần của Việt Nam năm 2003 [5] Dấu chân đất canh tác 0,31gha/người (34% dấu chân tổng), Dấu chân sinh thái hấp thụ CO­2 0,23 gha/người (25%), Dấu chân mặt nước ngư trường 0,19 gha/người (22%), Dấu chân đất rừng 0,10 gha/người (11%), Dấu chân đất xây dựng 0,06 gha/người (6%), Dấu chân đất đồng cỏ chăn nuôi 0,02gha/người (2%).

Dấu chân sinh thái là một phép đo ẩn dụ mức độ tác động của con người lên hệ sinh thái, đánh giá tính bền vững sinh thái của các hoạt động phát triển, giúp định hướng cho những thay đổi vì sự phát triển bền vững. Ở một số quốc gia, hoạt động tính dấu chân sinh thái được đưa vào hệ thống giáo dục phổ thông. Với mục đích tìm hiểu, tính toán Dấu chân sinh thái, giới thiệu và cảnh báo tình trạng lạm dụng sinh thái một cách dễ hiểu và Việt hóa, dưới sự hướng dẫn của giáo viên Nguyễn Thị Phương Loan, sinh viên Trần Xuân Việt đã lập được một website Dấu chân sinh thái tương đối thú vị và vẫn đang trên đường hoàn thiện (hình 5). Website này trình bày những vấn đề, khái niệm, xu hướng và phương pháp tính toán Dấu chân sinh thái, cung cấp các đường dẫn tới các website nổi tiếng khác về Dấu chân sinh thái như: National Footprint Accounts, EarthTrends, WWF… Tuy nhiên, website còn nhiều hạn chế về kỹ thuật xây dựng, trình bày, nội dung nên các tác giả rất mong muốn có sự góp ý và giúp đỡ để hoàn thiện cho nó.

Hình 5
Hình 5 (graphics5.png)

Hình 5: Một phần trang trong trang web cá nhân của Trần Xuân Việt

Chỉ số thịnh vượng: Khái niệm và kết quả nghiên cứu ứng dụng đánh giá phát triển bền vững nuôi thủy sản ở Nghĩa Hưng, Nam Định

Sự thịnh vượng ban đầu được IUCN mô tả bằng mô hình quả trứng bền vững hai lớp, với quan điểm chủ đạo là phát triển bền vững bằng sự thịnh vượng xã hội và sự phong phú sinh thái, hàm ý quả trứng chỉ tốt nếu cả lòng đỏ và lòng trắng đều tốt. Năm 1996, IUCN đề xuất chỉ số BS để đánh giá phát triển bền vững theo mô hình quả trứng bền vững 2 lớp. Mỗi loại phúc lợi gồm 5 chỉ thị phức hợp, biến thiên từ 0 đến 100%. Các hệ thống phát triển có thể đạt giá trị phúc lợi từ 0 đến 100%. Mức độ phát triển bền vững hệ thống được biểu diễn bằng quả trứng 2 lớp, đặt tại tọa độ (giá trị phúc lợi nhân văn, giá trị phúc lợi sinh thái) trên hệ tọa độ vuông góc, trong đó trục tung biểu thị phúc lợi sinh thái, trục hoành biểu thị phúc lợi nhân văn, các giá trị phúc lợi biến thiên từ 0 đến 100%, chia thành 5 vùng là: không bền vững (0 đến 20%), không bền vững tiềm tàng (21 đến 40%), bền vững trung bình (41 đến 60%), bền vững tiềm năng (61 đến 80%) và bền vững (81 đến 100%). Tiếp theo, mô hình của IUCN đã được phát triển thành quả trứng bền vững ba lớp (Egg of Sustainability) (Hình 6), còn thước đo phát triển bền vững cho mô hình quả trứng ba lớp là MoS (Measures of Success for sustainable development) (hình 7).

IUCN đã tài trợ cho nhóm chuyên gia do Robert Prescott-Allen chỉ đạo, đánh giá sự thịnh vượng cho 180 quốc gia, xây dựng bản đồ BS toàn cầu năm 2002. Kết quả nghiên cứu đã được xuất bản trong cuốn Sự thịnh vượng của các dân tộc: Một chỉ số về chất lượng cuộc sống và môi trường của từng quốc gia. Về nguyên tắc, thước đo BS được xác định riêng cho hai chủ đề cấp 1 là: Sự thịnh vượng xã hội (social wellbeing) và sự phong phú (thịnh vượng) của hệ sinh thái (Ecological wellbeing). Chủ đề cấp 2 của mỗi chủ đề cấp 1 được cấu trúc từ 5 chủ đề nhánh, mỗi chủ đề cấp 2 lại được đặc trưng bởi hai chủ đề cấp 3… (hình 8). Tổng các tiêu chí đánh giá thịnh vượng lên tới 88 thành phần. Trong 180 nước được nghiên cứu, giá trị BS của Hoa Kỳ đứng ở hàng thứ 27, Hungari 44 và Braxin 92, và nhìn chung phát triển bền vững nhất là các nước Bắc Âu (Thuỵ Điển, Phần Lan, Na Uy, Aixơlen), phát triển kém bền vững nhất là Uganđa, Afganistan, Xyri, Irăc…1

Hình 6
Hình 6 (graphics6.png)

Hình 6: Mô hình quả trứng bền vững 2 lớp và 3 lớp của IUCN

Hình 7
Hình 7 (graphics7.png)

Hình 7: Thước đo BS và thước đo MoS để đánh giá phát triển bền vững theo chỉ số thịnh vượng

Hình 8
Hình 8 (graphics8.png)

Hình 8: Hệ thống cấp chủ đề và chỉ thị đơn của chỉ số thịnh vượng trong mô hình quả trứng bền vững 2 lớp (Chú thích: KKĐF- Không khí địa phương, QG- Quốc gia)

graphics9.png

Hình 9: Chỉ số thịnh vượng sinh thái và xã hội toàn cầu [6]

Đi tiên phong trong tiếp cận với thước đo BS lí thuyết là PGS.TS. Nguyễn Đình Hòe. Tiếp đó, nó đã được các giáo viên và sinh viên khoa Môi trường sử dụng để đánh giá sự phát triển bền vững địa phương cho nhiều vùng ở Việt Nam. Năm 2002, hai tác giả Nguyễn Đình Hòe và Vũ Văn Hiếu đã xây dựng mô hình ASI để đánh giá phát triển bền vững nuôi trồng thủy sản và sử dụng nghiên cứu cho vùng Ninh Thuận và Nghĩa Hưng, nhưng trên một số lượng mẫu điều tra hạn chế. Trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu sinh tại Nghĩa Hưng, chúng tôi đã sử dụng mô hình ASI để tiếp tục đánh giá tính bền vững của nuôi tôm ở Nghĩa Hưng theo nguyên tắc điều tra mẫu chùm cho từng tiểu vùng sinh thái, mỗi vùng lấy 30 mẫu ngẫu nhiên, đồng thời nghiên cứu đánh giá độ nhạy của mô hình. Trong hình 10, chúng tôi dẫn ra các kết quả tính toán theo mô hình ASI của các tác giả tham khảo và của nhóm nghiên cứu. Trong hình 10.1 là kết quả đánh giá phát triển bền vững nuôi thủy sản toàn vùng ven biển huyện Nghĩa Hưng, gồm cả các hộ nuôi tôm trong và ngoài đê biển và hộ nuôi ngao ngoài bãi triều năm 2002 [1], hình 10.2 là kết quả đánh giá phát triển bền vững vùng nuôi xã Nam Điền năm 2005 [4] và hình 10.3 kết quả đánh giá phát triển bền vững vùng nuôi xã Nam Điền 2006 của nhóm nghiên cứu, do sinh viên Đinh Văn Huy trực tiếp tính toán, và đã sử dụng để thực hiện kháo luận tốt nghiệp hệ cử nhân khoa học môi trường năm 2006 dưới sự hướng dẫn của tác giả [2].

Kết quả nghiên cứu năm 2006 thu được trong quá trình đi thực địa, chọn ngẫu nhiên 30 ngư trại nuôi thủy sản vùng Tây Nam Điền, trong khu vực thuộc quyền quản lý của xã Nam Điền, điều tra theo bộ phiếu chuẩn của mô hình và xử lí tính toán bằng mô hình ASI. Kết quả tính toán được thể hiện trong bảng 1,2 và hình 9.3. Trong bảng 1 có thể thấy 4 chỉ số ASIE1, ASIE2, ASIE3, ASIE4 và trong bảng 2, chỉ số ASIH4 hoàn toàn không biến đổi. Đây rõ ràng là một vấn đề cần được nghiên cứu thêm, để có thể cải tiến mô hình nếu muốn tiếp tục khai thác nó.

Bảng 1: Kết quả tính chỉ thị thịnh vượng sinh thái năm 2006 ở Nam Điền

Bảng 2
Họ và tên ASIE1 ASIE2 ASIE3 ASIE4 ASIE5 ASIE
H1 Trần Văn Phương 0,00 0,00 0,10 0,20 0,19 0,49
H2 Nguyễn Văn Điền 0,00 0,00 0,10 0,20 0,16 0,46
H3 Bùi Viết Hưng 0,00 0,00 0,10 0,20 0,16 0,46
H4 Nguyễn Văn Việt 0,00 0,00 0,10 0,20 0,16 0,46
H5 Trần Văn Lãng 0,00 0,00 0,10 0,20 0,18 0,48
H6 Lại Văn Thành 0,00 0,00 0,10 0,20 0,17 0,47
H7 Phan Văn Hiền 0,00 0,00 0,10 0,20 0,17 0,47
H8 Nguyễn Văn Vinh 0,00 0,00 0,10 0,20 0,16 0,46
H9 Nguyễn Văn Học 0,00 0,00 0,10 0,20 0,15 0,45
H10 Trần Văn Điện 0,00 0,00 0,10 0,20 0,16 0,46
H11 Nguyễn Văn Cường 0,00 0,00 0,10 0,20 0,17 0,47
H12 Đặng Văn Tình 0,00 0,00 0,10 0,20 0,18 0,48
H13 Trần Văn Điền 0,00 0,00 0,10 0,20 0,16 0,46
H14 Lê Hải An 0,00 0,00 0,10 0,20 0,18 0,48
H15 Nguyễn Văn Phong 0,00 0,00 0,10 0,20 0,18 0,48
H16 Nguyễn Văn Vĩnh 0,00 0,00 0,10 0,20 0,18 0,48
H18 Đoàn Văn Công 0,00 0,00 0,10 0,20 0,17 0,47
H17 Phạm Văn Nhân 0,00 0,00 0,10 0,20 0,18 0,48
H19 Đoàn Văn Thân 0,00 0,00 0,10 0,20 0,19 0,49
H20 Trần Văn Tiến 0,00 0,00 0,10 0,20 0,15 0,45
H21 Lê Văn Hiển 0,00 0,00 0,10 0,20 0,17 0,47
H22 Nguyễn Văn Thông 0,00 0,00 0,10 0,20 0,16 0,46
H23 Trần Văn Đình 0,00 0,00 0,10 0,20 0,17 0,47
H24 Trần Văn Chất 0,00 0,00 0,10 0,20 0,16 0,46
H25 Trần Văn Thịnh 0,00 0,00 0,10 0,20 0,16 0,46
H26 Vũ Văn Thượng 0,00 0,00 0,10 0,20 0,17 0,48
H27 Trần Văn Lợi 0,00 0,00 0,10 0,20 0,16 0,46
H28 Vũ Đức Viễn 0,00 0,00 0,10 0,20 0,13 0,43
H29 Nguyễn Văn Vinh 0,00 0,00 0,10 0,20 0,16 0,46
H30 Bùi Văn Bàn 0,00 0,00 0,10 0,20 0,16 0,46

Bảng 2: Kết quả tính chỉ thị thịnh vượng nhân văn năm 2006 ở Nam Điền

Bảng 3
Họ và tên ASIH1 ASIH2 ASIH3 ASIH4 ASIH5 ASIH
H1 Trần Văn Phương 0,15 0,09 0,20 0,06 0,17 0,67
H2 Nguyễn Văn Điền 0,20 0,07 0,13 0,06 0,20 0,66
H3 Bùi Viết Hưng 0,20 0,00 0,10 0,06 0,13 0,49
H4 Nguyễn Văn Việt 0,15 0,16 0,20 0,06 0,14 0,71
H5 Trần Văn Lãng 0,12 0,00 0,06 0,06 0,18 0,42
H6 Lại Văn Thành 0,10 0,00 0,20 0,06 0,13 0,69
H7 Phan Văn Hiền 0,05 0,00 0,13 0,06 0,17 0,41
H8 Nguyễn Văn Vinh 0,20 0,00 0,10 0,06 0,16 0,52
H9 Nguyễn Văn Học 0,10 0,00 0,20 0,06 0,20 0,46
H10 Trần Văn Điện 0,10 0,11 0,10 0,06 0,14 0,51
H11 Nguyễn Văn Cường 0,15 0,03 0,20 0,06 0,18 0,62
H12 Đặng Văn Tình 0,10 0,20 0,00 0,06 0,11 0,47
H13 Trần Văn Điền 0,10 0,00 0,20 0,06 0,16 0,52
H14 Lê Hải An 0,05 0,00 0,00 0,06 0,14 0,25
H15 Nguyễn Văn Phong 0,10 0,00 0,00 0,06 0,11 0,27
H16 Nguyễn Văn Vĩnh 0,20 0,00 0,20 0,06 0,17 0,63
H18 Đoàn Văn Công 0,15 0,00 0,20 0,06 0,20 0,61
H17 Đoàn Văn Thân 0,15 0,13 0,20 0,06 0,13 0,67
H19 Phạm Văn Nhân 0,05 0,00 0,00 0,06 0,18 0,29
H20 Trần Văn Tiến 0,15 0,20 0,20 0,06 0,16 0,77
H21 Lê Văn Hiển 0,15 0,00 0,20 0,06 0,18 0,59
H22 Nguyễn Văn Thông 0,10 0,00 0,10 0,06 0,19 0,45
H23 Trần Văn Đình 0,10 0,00 0,00 0,06 0,14 0,30
H24 Trần Văn Chất 0,05 0,00 0,20 0,06 0,18 0,49
H25 Trần Văn Thịnh 0,05 0,10 0,20 0,06 0,13 0,54
H26 Vũ Văn Thượng 0,05 0,20 0,10 0,06 0,12 0,53
H27 Trần Văn Lợi 0,15 0,20 0,20 0,06 0,16 0,77
H28 Vũ Đức Viễn 0,15 0,08 0,10 0,06 0,14 0,53
H29 Nguyễn Văn Vinh 0,05 0,20 0,20 0,06 0,13 0,64
H30 Bùi Văn Đàn 0,15 0,00 0,13 0,06 0,11 0,45
Hình 9
Hình 9 (graphics10.png)

Hình 10: Hiển thị trên thước đo BS kết quả đánh giá tính bền vững nuôi thủy sản huyện Nghĩa Hưng năm 2001-2002 (hình 10.1), của xã Nam Điền năm 2005 (hình 10.2) và 2006 (hình 10.3), trong đó trục tung biểu thị thịnh vượng sinh thái, trục hoành biểu thị thịnh vượng nhân văn.

Bức tranh toàn cảnh trên hình 10 cho thấy tính bền vững của hoạt động nuôi thủy sản ở Nam Điền ít biến động qua các năm, chủ yếu ở mức trung bình. Trên hình 10.1. có một số trại nuôi có mức PTBV tiềm tàng, khác biệt hẳn so với các trạm còn lại. Trong thực tế, đấy là các trạm nuôi ngao ngoài bãi triều, trong khi các trạm còn lại là trại nuôi tôm. Phân tích hình 10.3, có thể thấy tại xã Nam Điền không có hộ nào thật sự có tính bền vững nổi trội, đặc biệt là trong chỉ số thịnh vượng sinh thái. Sự khác biệt thể hiện rõ nét hơn trong chỉ số thịnh vượng nhân văn. Nguyên nhân của sự phân hóa này chủ yếu là do chênh lệch lợi nhuận của các chủ đầm. Những chỉ số thịnh vượng nhân văn thấp nhất (số 14, 15, 19, 23) đều do có lợi nhuận thấp và được chủ đầm lý giải là do mất mùa vì dịch bệnh. Trong một vùng đầm nuôi không lớn, mà diễn biến lợi nhuận nuôi tôm rất phân hóa, chứng tỏ những vấn đề liên quan đến kiểm soát, phòng ngừa, khắc phục dịch bệnh chưa được quan tâm đúng mức và đồng đều. Điều này cũng đã được phát hiện, làm rõ trong quá trình phỏng vấn các chủ đầm và điều tra thực địa.

Việc hiển thị được mức độ phát triển bền vững nuôi thủy sản trên thước đo BS, thông qua sử dụng mô hình ASI là một thành công trong nghiên cứu. Tuy nhiên, trong quá trình ứng dụng mô hình ASI, chúng tôi cũng nhận thấy nó còn có những hạn chế nhất định. Đó là: Mô hình ASI chưa thể hiện được khả năng đánh giá những biến động nhạy cảm của hệ thống. Việc chỉ sử dụng 10 chỉ thị thứ cấp, trong khi về lý thuyết có tới 88 chỉ thị nhánh đã được sử dụng, cũng là sự giản lược có thể dẫn tới làm cho thước đo kém nhạy cảm. Đây là vấn đề cần phải được nghiên cứu kiểm chứng thêm. Tuy nhiên, các tác giả cũng gặp khó khăn lớn do chưa thể tiếp cận với bất kỳ tài liệu tham khảo nào trình bày đầy đủ về 88 chỉ tiêu này và cách xác định chúng. Các điều tra thống kê triển khai cho một mẫu vùng có điều kiện đồng nhất, cần kích thước mẫu tối thiểu là 30 điểm điều tra. Do vậy, khi vùng điều tra không đồng nhất, số lượng hộ cần điều tra trong mẫu cũng phải tăng lên. Ví dụ như, tại Nghĩa Hưng khu vực đầm nuôi ngao ngoài bãi triều có các đặc điểm sinh thái, môi trường tự nhiên và công nghệ, tác động môi trường hoàn toàn khác các đầm nuôi tôm vùng trong đê, nên khi số lượng đối tượng điều tra đã hạn chế ở mức thấp nhất, kết quả tính thể hiện trên hình 10.1 phân hóa không cân xứng. Ở vùng nuôi ngao tại bãi triều, các chỉ số điều tra hộ quá ít, không đủ độ tin cậy khi so sánh với các kết quả thu được từ tập hợp số liệu đông hơn rất nhiều ở vùng nuôi tôm trong đê. Giải pháp trước mắt, theo các tác giả, là nên sử dụng mô hình cho các khu vực có các đặc trưng sinh thái và xã hội tương đối đồng nhất.

Kết luận

Đánh giá thịnh vượng nói riêng và đánh giá phát triển bền vững địa phương bằng chỉ số nói chung là một bài toán khó, nhưng rất cần được triển khai nhiều hơn và được trao đổi, rút kinh nghiệm. Cần có sự đầu tư để có thể phát triển việc đánh giá phát triển bền vững bằng các chỉ số đã được thế giới công nhận, góp phần hội nhập toàn cầu trong lĩnh vực nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu đánh giá phát triển bền vững do các tác giả triển khai đã đạt được các kết quả sau:

  1. Đã tính được sức tải sinh thái và dấu chân sinh thái thành phần cho Việt Nam từ 2001 đến 2003, kết quả cho thấy dấu chân sinh thái quốc gia đã lớn hơn sức tải sinh thái quốc gia, tạo áp lực xấu lên môi trường và tài nguyên thiên nhiên.
  2. Đã xác định được chỉ số thịnh vượng sinh thái và xã hội cho vùng nuôi thủy sản Nghĩa Hưng bằng mô hình ASI, xây dựng trên cơ sở thước đo BS. Mức độ phát triển bền vững ở đây được đánh giá là trung bình.
  3. Đã bước đầu nhận thấy những hạn chế của thước đo BS và mô hình ASI để có những định hướng nghiên cứu tiếp theo. Do điều kiện hạn chế, các tác giả chưa thử nghiệm được thước đo MoS. Để đáp ứng đầy đủ nội hàm khái niệm cũng như mục tiêu của phát triển bền vững, là sự phát triển đồng thời theo ba trục kinh tế, xã hội và môi trường, các tác giả cho rằng thước đo MoS ưu thế hơn rất nhiều so với thước đo BS.

Tài liệu tham khảo

  1. Nguyễn Đình Hòe và Vũ Văn Hiếu, 2002. Xây dựng và thử nghiệm bộ chỉ số đánh giá tính bền vững của nuôi trồng thủy sản ven biển. Báo cáo chuyên đề số 66/HĐ – KTQH, Hà Nội.
  2. Đinh Văn Huy, 2006. Nghiên cứu các vấn đề môi trường trong phát triển nuôi thủy sản tại xã Nam Điền, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định. Khóa luận tốt nghiệp. Khoa Môi trường, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên. Hà Nội.
  3. Nguyễn Thị Phương Loan, Trần Xuân Việt, 2007. Trao đổi về hệ thống các nguyên tắc phát triển bền vững và đánh giá phát triển bền vững. Kỷ yếu hội thảo quốc gia “Các vấn đề môi trường và phát triển bền vững vùng Đông Bắc dưới tác động của quá trình phát triển kinh tế- xã hội thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa”. Thái Nguyên.
  4. Nguyễn Thị Thủy, 2005. Quản lý việc nuôi tôm cho sự phát triển bền vững tại xã Nam Điền, Nghĩa Hưng, Nam Định. Khóa luận tốt nghiệp. Khoa Môi trường, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Hà Nội.
  5. Trần Xuân Việt, 2005. Trang Web cá nhân mysite6\index.htm.
  6. David Hales and Robert Prescott-Allen. Flying Blind: Assessing Progress Toward Sustainability (Tài liệu này được khai thác từ mạng Internet. Nhưng do sơ suất, các tác giả không còn lưu được địa chỉ trang web này và hiện cũng chưa tìm lại được nó. Vì thế các thông tin về tài liệu chưa được đầy đủ)
  7. WWF, 2006. Living Planet Report. Global Footprint Network và Zoological Society of London.
  8. Nic Marks, 2006. The happy planet index, An index of human wellbeing and environment impact. NEF’s centre for wellbeing. Www.happyplanetindex.org
  9. Www.worlddatabaseofhappiess.eur.nl

Footnotes

  1. Prescott - Allen, R (Edit). IDRC, 2002 (www.idrc.ca The Wellbeing of Nations at a glance).

Content actions

Download module as:

PDF | EPUB (?)

What is an EPUB file?

EPUB is an electronic book format that can be read on a variety of mobile devices.

Downloading to a reading device

For detailed instructions on how to download this content's EPUB to your specific device, click the "(?)" link.

| More downloads ...

Add module to:

My Favorites (?)

'My Favorites' is a special kind of lens which you can use to bookmark modules and collections. 'My Favorites' can only be seen by you, and collections saved in 'My Favorites' can remember the last module you were on. You need an account to use 'My Favorites'.

| A lens I own (?)

Definition of a lens

Lenses

A lens is a custom view of the content in the repository. You can think of it as a fancy kind of list that will let you see content through the eyes of organizations and people you trust.

What is in a lens?

Lens makers point to materials (modules and collections), creating a guide that includes their own comments and descriptive tags about the content.

Who can create a lens?

Any individual member, a community, or a respected organization.

What are tags? tag icon

Tags are descriptors added by lens makers to help label content, attaching a vocabulary that is meaningful in the context of the lens.

| External bookmarks